YenBai.orgYên Bái
Núi, sông và hồ Thác Bà

Hệ sinh thái hồ Thác Bà: cá, chim nước, rừng đảo và chất lượng nước một hồ chứa lớn

Hồ Thác Bà là một hệ sinh thái: cá hồ, cá lồng, chim nước, rừng trên đảo, nước hồ đổi theo mùa. Điều gì giữ cho hồ khoẻ và điều gì đang đe doạ nó.

Overhead drone view of floating fish cages on a green reservoir beside a forested island, a small wooden boat leaving a wake, morning light, calm water

Hồ Thác Bà là một hệ sinh thái hồ chứa lớn: nước hồ nuôi nhiều loài cá tự nhiên và cá nuôi lồng, các đảo phủ rừng là nơi trú của chim nước và động vật nhỏ, còn rừng quanh hồ giữ đất, giữ nước cho cả lưu vực. Sức khoẻ của hệ sinh thái này gắn trực tiếp với sinh kế của hàng chục nghìn người ở các xã Thác Bà, Yên Bình, Yên Thành, Cảm Nhân, Bảo Ái và vùng Lục Yên cũ.

Người đến hồ thường chỉ thấy mặt nước xanh và đảo. Bài này nhìn sâu hơn: trong hồ có gì sống, cá được nuôi và bắt ra sao, rừng đảo có vai trò gì, nước hồ thay đổi thế nào theo mùa, và những áp lực nào đang đè lên hồ. Đây là kiến thức hữu ích cho người làm thủy sản, du lịch hay đơn giản là sống ven hồ.

Một hồ nhân tạo trở thành môi trường sống

Khi nước dâng hơn nửa thế kỷ trước, thung lũng sông Chảy chuyển từ môi trường sông chảy xiết sang môi trường hồ tĩnh. Những loài cá ưa nước chảy dần thu hẹp vùng sống về phía thượng hồ và các nhánh suối, còn những loài hợp với nước tĩnh, nước sâu phát triển mạnh. Theo thời gian, hồ hình thành một quần xã sinh vật riêng, khác cả sông cũ lẫn các hồ tự nhiên trên núi.

Đáy hồ là đất ruộng, làng cũ và thảm thực vật bị ngập, phân huỷ dần trong những năm đầu, tạo nguồn dinh dưỡng ban đầu cho sinh vật phù du. Phù du là thức ăn cho cá mè, cá trôi và nhiều loài cá nhỏ, cá nhỏ lại là mồi cho cá dữ như cá chuối, cá ngão, cá lăng. Chuỗi thức ăn ấy là nền của nghề cá hồ Thác Bà.

Mực nước dao động theo mùa và theo vận hành nhà máy cũng là một nhân tố sinh thái. Vùng bờ bị ngập rồi lộ ra mỗi năm khó có cây lâu năm sống được, nhưng lại là nơi cỏ dại mọc nhanh khi nước rút, rồi bị ngập, phân huỷ khi nước lên, làm giàu dinh dưỡng cho vùng nước ven bờ.

Những nhóm cá thường gặp ở hồ

Người dân quanh hồ phân biệt cá theo cách gọi địa phương và theo cách đánh bắt. Bảng dưới là các nhóm thường được nhắc; thành phần loài cụ thể và tình trạng từng loài cần tra tài liệu nghiên cứu thủy sản.

Nhóm cáLoài thường được nhắcSống ở đâu trong hồNguồn gốc
Cá ăn phù du, ăn tạpCá mè, cá trôi, cá chépTầng nước giữa và nông, vùng nhánh hồCó cả tự nhiên và thả bổ sung
Cá ăn cỏCá trắm cỏVen bờ, vùng có thực vậtPhần lớn thả nuôi, nuôi lồng
Cá dữ, cá đáyCá lăng, cá chiên, cá ngạnh, cá chuốiLòng sông cũ sâu, gốc cây ngập, chân đảo đáPhần nhiều tự nhiên, một số được nuôi lồng
Cá nhỏCá mương, cá bống, cá thiểuVen bờ, nhánh hồTự nhiên
Cá nuôi lồng phổ biếnCá rô phi, cá diêu hồng, trắm, lăngLồng đặt ở vũng kín gióNuôi thương phẩm

Những loài cá có giá trị như cá lăng, cá chiên ngày càng khó bắt ngoài tự nhiên, nên một phần được chuyển sang nuôi lồng. Cá hồ Thác Bà là chủ đề quen thuộc trong ẩm thực địa phương; bài này chỉ nhìn chúng như một phần của hệ sinh thái.

Nước hồ thay đổi theo mùa

Hồ Thác Bà có một nhịp năm khá rõ. Cuối mùa khô, hồ thường hạ mực nước để phát điện và chuẩn bị đón lũ, bờ hồ lộ ra những vành đất trống, nhiều đảo nối liền nhau bằng những dải đất. Đầu mùa mưa, nước lũ từ sông Chảy và các suối mang bùn đất về, vùng thượng hồ đục hẳn trong khi vùng gần đập vẫn trong. Giữa và cuối mùa mưa, hồ tích nước, mặt hồ rộng nhất trong năm.

Mùa hè, nắng nóng làm lớp nước mặt ấm lên trong khi tầng sâu vẫn lạnh. Hai lớp nước ít trộn với nhau, gọi là phân tầng nhiệt. Tầng sâu dần thiếu ô xy vì chất hữu cơ phân huỷ mà không được bổ sung. Khi gió mùa đông bắc tràn về hoặc có đợt mưa lạnh, nước mặt nguội đi, chìm xuống và hai tầng xáo trộn. Đây là lúc cá dễ bị sốc, đặc biệt cá nuôi lồng.

Mùa đông, nước hồ trong hơn, mát hơn, sương phủ mặt hồ vào sáng sớm. Cá ăn ít đi, người nuôi giảm cho ăn. Hiểu nhịp mùa của hồ là kiến thức nền của nghề cá: chọn lúc thả giống, lúc thu hoạch, lúc cần theo dõi sát sức khoẻ đàn cá.

Nuôi cá lồng: sinh kế lớn trên mặt hồ

Vài chục năm gần đây, nuôi cá lồng trở thành nghề quan trọng ở các xã ven hồ. Lồng thường được đặt ở những vũng kín gió, nước sâu vừa phải, gần nhà để tiện trông coi. Một hộ có thể có vài lồng đến vài chục lồng, nuôi các loài như rô phi, diêu hồng, trắm, lăng. Có cả hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia, làm con giống, thức ăn, thu mua.

Nuôi cá lồng tận dụng được mặt nước mà không cần đào ao, nhưng phụ thuộc nhiều vào chất lượng nước hồ. Những đợt nắng nóng kéo dài, nước hồ phân tầng, thiếu ô xy ở tầng dưới, hoặc những lúc nước đục sau lũ có thể làm cá chết hàng loạt. Người nuôi lâu năm thường quan sát màu nước, mùi nước, hành vi cá để kịp xử lý.

Mật độ lồng quá dày ở một vũng có thể làm ô nhiễm cục bộ do thức ăn thừa và chất thải của cá. Vì vậy việc nuôi cá lồng trên hồ chịu quy định về vùng nuôi, mật độ và cấp phép sử dụng mặt nước. Ai muốn làm nghề này nên hỏi cơ quan nông nghiệp và chính quyền xã về quy định hiện hành trước khi đầu tư.

Rừng trên đảo và rừng quanh hồ

Hơn một nghìn đảo trên hồ phần lớn được phủ cây: rừng trồng keo, bồ đề, bạch đàn xen với cây bụi, tre nứa và các mảng rừng tái sinh. Trên các núi đá vôi ở thượng hồ, thảm thực vật là cây bụi và cây gỗ nhỏ bám vách đá. Rừng đảo giữ đất, hạn chế sạt bờ đảo khi sóng đánh và khi mực nước lên xuống.

Quanh hồ, sườn dãy Con Voi và các đồi phía đông là rừng trồng sản xuất và rừng phòng hộ. Rừng phòng hộ đầu nguồn giữ cho nước mưa thấm vào đất thay vì chảy tràn mang theo bùn đất xuống hồ. Nếu lớp phủ này mất đi, hồ sẽ bị bồi lắng nhanh hơn, giảm dung tích chứa nước và ảnh hưởng tới cả nhà máy điện lẫn khả năng cắt lũ.

Một số đảo có người ở và canh tác. Việc khai thác rừng trồng theo chu kỳ trên đảo là bình thường, nhưng nếu khai thác trắng cùng lúc trên sườn dốc thì đất trên đảo dễ trôi xuống hồ trong mùa mưa. Người làm du lịch trên đảo, làm nhà nghỉ, khu vui chơi cần tuân thủ quy định về bảo vệ rừng và hành lang bảo vệ hồ chứa.

Hang động và núi đá vôi thượng hồ: một sinh cảnh khác

Về phía thượng hồ, gần vùng Lục Yên cũ, những khối núi đá vôi nhô lên từ mặt nước tạo ra một sinh cảnh khác hẳn vùng đồi đất phía dưới. Vách đá dựng đứng, nhiều hốc, ít đất, cây cối phải bám rễ vào khe nứt. Thực vật ở đây chịu được khô hạn, nhiều loài đặc trưng cho núi đá vôi miền Bắc.

Hang động trong núi đá vôi như động Thủy Tiên, động Xuân Long là môi trường tối, ẩm, nhiệt độ ổn định. Ngoài thạch nhũ là phần khách tham quan thấy, hang còn là nơi trú của dơi và các loài động vật nhỏ thích nghi với bóng tối. Những hang này rất nhạy cảm: đèn sáng mạnh, tiếng ồn, việc bẻ thạch nhũ làm kỷ niệm có thể làm hỏng cảnh quan đã hình thành qua thời gian rất dài.

Nước trong vùng đá vôi thấm qua khe nứt, hoà tan đá và đổ ra hồ ở nhiều mạch nhỏ. Vì thế vùng nước quanh chân núi đá thường trong hơn. Cá dữ như cá lăng, cá chiên ưa trú ở các hốc đá ngầm dưới chân núi, nơi người đánh cá lâu năm biết rõ từng chỗ.

Chim nước và động vật quanh hồ

Mặt hồ rộng, nhiều đảo ít người là nơi thích hợp cho chim nước. Người dân quanh hồ thường thấy cò trắng, diệc, vạc, le le, chim bói cá. Có những đảo được người dân gọi theo đàn cò về trú, vào chiều tối có thể thấy cò bay từng đàn về đảo. Mùa đông, một số loài chim di cư có thể ghé hồ, nhưng thông tin về loài cụ thể cần dựa vào quan sát của người làm chuyên môn.

Trong rừng quanh hồ và trên các đảo lớn còn có các loài thú nhỏ, bò sát, ếch nhái. Hang động ở thượng hồ có dơi. Phần lớn động vật hoang dã lớn đã vắng bóng do mất rừng tự nhiên từ trước khi có hồ. Vì vậy những gì còn lại, như các đàn chim nước, càng đáng được giữ gìn.

Người đi thuyền, chụp ảnh, làm du lịch quanh hồ nên giữ khoảng cách với các đảo có chim trú, không đuổi bắt, không bay thiết bị quá gần đàn chim, không bắt chim, bẫy chim. Bắt bán động vật hoang dã là vi phạm pháp luật; gặp trường hợp nghi vấn nên báo cho kiểm lâm hoặc chính quyền xã.

Những áp lực lên hồ và điều mỗi người có thể làm

Bồi lắng từ lưu vực. Đất đồi bị xói mòn khi mất lớp phủ, khi làm đường, làm nhà trên sườn dốc, theo nước mưa chảy xuống hồ. Giữ rừng đầu nguồn, trồng lại cây sau khai thác là cách giảm bồi lắng lâu dài.

Rác và nước thải sinh hoạt. Rác nhựa từ khu dân cư, bến thuyền, điểm du lịch trôi ra hồ và tụ lại ở các vũng. Mỗi hộ, mỗi cơ sở du lịch thu gom rác đúng chỗ, không xả nước thải thẳng xuống hồ là cách đơn giản nhất.

Đánh bắt tận diệt. Kích điện, lưới quá dày, chất nổ, chất độc là những hình thức bị cấm, làm cạn nguồn cá con. Người dân và khách du lịch không mua cá đánh bắt theo cách này, không tiếp tay bằng cách thuê người đánh bắt kiểu đó.

Nuôi lồng quá tải. Mật độ lồng dày ở một vũng làm nước xấu đi, cá dễ bệnh. Tuân thủ quy hoạch vùng nuôi và mật độ do địa phương quy định giúp nghề nuôi bền hơn chính cho người nuôi.

Theo dõi bất thường. Cá chết hàng loạt, nước đổi màu, có mùi lạ là những hiện tượng cần báo ngay cho chính quyền xã và cơ quan chuyên môn để lấy mẫu kiểm tra, không tự kết luận nguyên nhân.

Câu hỏi thường gặp

Nước hồ Thác Bà có sạch không?

Nhìn chung nước hồ được đánh giá ở mức phục vụ được nhiều mục đích như nuôi cá, tưới tiêu, du lịch, nhưng chất lượng nước thay đổi theo mùa và theo từng khu vực. Vùng gần khu dân cư, bến thuyền, lồng nuôi dày có thể kém hơn. Số liệu quan trắc cụ thể nên xem ở báo cáo môi trường của cơ quan chức năng.

Người ngoài địa phương có được câu cá ở hồ Thác Bà không?

Câu cá giải trí thường được chấp nhận, nhưng cần tránh khu vực cấm như quanh đập, khu nuôi lồng của người khác và vùng bảo vệ nguồn lợi nếu có. Không dùng kích điện, lưới cấm. Nên hỏi chính quyền xã hoặc người dân nơi định câu về quy định hiện hành.

Vì sao có lúc cá lồng ở hồ chết hàng loạt?

Nguyên nhân thường gặp là thiếu ô xy khi nắng nóng kéo dài, nước hồ phân tầng hoặc đảo tầng đột ngột khi thời tiết thay đổi, nước đục sau lũ, mật độ nuôi quá dày, hoặc dịch bệnh. Mỗi vụ cần cơ quan chuyên môn lấy mẫu mới xác định được nguyên nhân cụ thể.

Trên hồ Thác Bà có loài động vật quý hiếm nào không?

Hồ và rừng quanh hồ là nơi sống của nhiều loài chim nước, cá và động vật nhỏ. Việc xác định loài quý hiếm cần dựa trên khảo sát của các nhà khoa học và cơ quan bảo tồn. Bất kỳ loài nào cũng không nên bắt, bẫy; buôn bán động vật hoang dã là vi phạm pháp luật.

Muốn mở dịch vụ du lịch trên đảo ở hồ Thác Bà cần chú ý gì về môi trường?

Cần tìm hiểu quy định về hành lang bảo vệ hồ chứa, bảo vệ rừng, xử lý nước thải và rác thải, cấp phép sử dụng đất và mặt nước tại cơ quan có thẩm quyền của tỉnh Lào Cai. Ngoài thủ tục, nên thiết kế cơ sở sao cho không chặt rừng đảo, không xả thải ra hồ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.