YenBai.orgYên Bái
Núi, sông và hồ Thác Bà

Sông Chảy và ngòi suối Yên Bái cũ: Ngòi Thia, Ngòi Hút, Nậm Kim, suối vùng cao

Ngoài sông Hồng, vùng Yên Bái cũ có sông Chảy chảy qua Lục Yên vào hồ Thác Bà và hàng trăm ngòi suối. Mỗi dòng nuôi một vùng đất, một kiểu sinh kế, một mùa lũ riêng.

Clear mountain stream rushing over large grey boulders in a narrow forested valley, terraced fields on slopes above, morning mist, eye level shot near the water

Vùng Yên Bái cũ thuộc ba lưu vực: sông Chảy ở phía đông (chảy qua Lục Yên vào hồ Thác Bà), sông Hồng ở giữa và sông Đà ở phía tây (các suối vùng Mù Cang Chải, Trạm Tấu). Giữa các sông lớn là hàng trăm ngòi, suối, trong đó Ngòi Thia, Ngòi Hút, Nậm Kim, Nậm Có là những dòng quen tên nhất với người sống ở đây.

Bài trước đã nói về sông Hồng. Bài này đi qua những dòng nước còn lại: sông Chảy và các ngòi suối lớn. Mỗi dòng gắn với một vùng đất cụ thể, một kiểu ruộng, một kiểu làng, và cả một kiểu rủi ro mùa mưa khác nhau. Biết dòng nước nào chảy qua nơi mình sống là bước đầu để hiểu đất đai và an toàn ở đó.

Sông Chảy: dòng sông bị chặn lại thành hồ

Sông Chảy bắt nguồn từ vùng núi cao Hà Giang, chảy qua phía đông Lào Cai cũ rồi vào vùng Lục Yên của Yên Bái cũ. Từ Lục Yên, sông chảy xuống Yên Bình, và từ đây phần lớn chiều dài trong địa phận tỉnh cũ đã trở thành lòng hồ Thác Bà. Qua đập ở xã Thác Bà, sông tiếp tục chảy về Phú Thọ rồi nhập vào sông Lô.

Đoạn sông Chảy phía trên hồ, qua thung lũng Lục Yên, còn giữ dáng một con sông vùng núi: lòng hẹp, nhiều ghềnh, nước trong hơn sông Hồng nhiều vì ít phù sa đỏ. Hai bên sông là ruộng lúa của người Tày và các làng người Kinh, xa hơn là núi đá vôi và đồi trồng rừng. Đây là vùng mà sông Chảy còn làm đúng chức năng của một dòng sông bồi đắp đồng ruộng.

Đoạn phía dưới đập thì lại phụ thuộc vào việc vận hành nhà máy thủy điện. Mực nước lên xuống theo lượng xả, không còn theo nhịp tự nhiên như trước. Người dân ven sông phía hạ du đã quen với việc nghe thông báo xả, và hiểu rằng nước có thể dâng lên dù trời tại chỗ không mưa.

Các dòng nước chính và vùng chúng nuôi

Bảng dưới gom những dòng nước quen tên của vùng Yên Bái cũ. Hướng chảy và vùng ghi theo tên huyện cũ để dễ đối chiếu với tài liệu; thông tin cụ thể về chiều dài, lưu lượng nên tra tài liệu thủy văn chính thức.

Dòng nướcLưu vựcChảy qua vùng (tên cũ)Gắn với
Sông Chảysông LôLục Yên, Yên BìnhRuộng thung lũng Lục Yên, hồ Thác Bà
Ngòi Thiasông HồngVăn Chấn, Nghĩa Lộ, xuống phía Trấn YênCánh đồng Mường Lò, mương phai người Thái
Ngòi Hútsông HồngVăn YênRuộng ven ngòi, đồi quế, bản Dao, Tày
Nậm Kimsông ĐàMù Cang ChảiRuộng bậc thang thung lũng trung tâm Mù Cang Chải
Nậm Cósông ĐàMù Cang ChảiBản Mông, Thái vùng Nậm Có, ruộng bậc thang
Suối vùng Trạm Tấusông ĐàTrạm TấuBản Mông, Thái; suối khoáng nóng vùng Trạm Tấu

Điểm đáng nhớ: ranh giới giữa lưu vực sông Hồng và sông Đà nằm trên các đường sống núi phía tây. Nước mưa rơi bên này đèo Khau Phạ chảy về Tú Lệ, Nghĩa Lộ rồi sông Hồng; bên kia đèo thì chảy về Mù Cang Chải rồi sông Đà. Hai thung lũng cách nhau một con đèo nhưng thuộc hai hệ thống sông khác nhau.

Ngòi Thia và cánh đồng Mường Lò

Ngòi Thia là dòng nước có ý nghĩa nhất với đời sống người Thái ở Mường Lò. Bắt nguồn từ vùng núi cao phía tây, ngòi chảy qua vùng Văn Chấn, vào lòng chảo Nghĩa Lộ rồi tiếp tục về sông Hồng. Trong lòng chảo, nước Ngòi Thia và các suối nhánh được dẫn vào ruộng qua hệ thống mương phai mà người Thái dựng từ nhiều đời.

"Phai" là đập tạm chắn suối để nâng mực nước, "mương" là kênh dẫn nước từ phai vào ruộng. Hệ thống mương phai cho phép tưới cả một cánh đồng mà không cần máy bơm, chỉ dựa vào độ dốc tự nhiên. Việc làm phai, nạo mương là công việc chung của bản, có quy ước phân nước và lễ cúng đầu nguồn. Nhờ vậy Mường Lò trở thành một trong những cánh đồng lớn của người Thái vùng Tây Bắc.

Ngày nay nhiều đoạn mương đã được kiên cố hoá bằng bê tông, nhiều phai được thay bằng đập cố định, nhưng nguyên lý vẫn vậy: nước Ngòi Thia đi theo độ dốc tự nhiên vào từng thửa ruộng. Người mới đến Nghĩa Lộ sẽ thấy những con mương chảy róc rách ngay cạnh đường, cạnh nhà sàn, và đó là mạch sống của cánh đồng.

Nậm Kim, Nậm Có và suối vùng cao phía tây

Vượt đèo Khau Phạ sang Mù Cang Chải, các dòng suối đổi hướng chảy về sông Đà. Nậm Kim chảy qua thung lũng trung tâm Mù Cang Chải, nơi có những dải ruộng bậc thang dọc hai bên. Nậm Có chảy qua vùng phía nam, cũng là vùng ruộng bậc thang và bản làng người Mông, Thái. "Nậm" là tiếng Thái nghĩa là nước, sông suối; nhiều dòng nước vùng cao đều mang tiền tố này.

Suối vùng cao có độ dốc rất lớn. Lòng suối đầy đá tảng tròn, nhiều thác nhỏ, nước trong và lạnh. Người Mông dẫn nước từ khe suối trên cao vào ruộng bậc thang bằng những con mương men theo sườn núi, có khi dài hàng cây số. Nước chảy từ ruộng bậc trên xuống bậc dưới, cả quả đồi được tưới bằng một nguồn nước.

Phía Trạm Tấu, suối cũng chảy về lưu vực sông Đà. Vùng này có suối khoáng nóng tự nhiên, là đặc điểm địa chất hiếm thấy ở những nơi khác trong tỉnh cũ. Nhiệt độ và thành phần nước khoáng từng nơi khác nhau, thông tin cụ thể nên xem ở nguồn chính thức tại điểm đến.

Ở phía Văn Yên, Ngòi Hút là dòng nước lớn nhất đổ vào sông Hồng từ phía tây nam. Thung lũng Ngòi Hút dài, hai bên là đồi quế và rừng trồng, đáy thung lũng là ruộng lúa và làng xen kẽ. Lũ trên Ngòi Hút thường lên nhanh vì lưu vực dốc, và nhiều bản ven ngòi từng chịu sạt lở, ngập trong các mùa mưa lớn. Người sống dọc thung lũng này quen dựng nhà trên các bậc thềm cao hơn lòng ngòi, để lại đất thấp cho ruộng.

Sông Chảy phía thượng hồ và các suối vùng Lục Yên

Vùng Lục Yên cũ có mạng lưới suối dày đổ vào sông Chảy từ hai phía. Phía tây là các suối chảy từ sườn đông dãy Con Voi; phía đông là các suối từ vùng đồi núi giáp Tuyên Quang, Hà Giang. Nhiều suối chảy qua vùng núi đá vôi, có đoạn chui vào lòng núi rồi lộ ra ở chỗ khác. Kiểu địa hình này gọi là các-xtơ, khiến nước ngầm và nước mặt đan xen phức tạp.

Thung lũng Lục Yên, nay thuộc các xã như Lục Yên, Mường Lai, Khánh Hòa, Lâm Thượng, Phúc Lợi, Tân Lĩnh, được tưới bằng nước sông Chảy và các suối này. Ruộng lúa ở đây có hình dạng ô lớn hơn ruộng bậc thang vùng cao, nằm trên các bậc thềm sông. Ngoài lúa, ven suối còn có ngô, lạc, mía và các ao cá nhỏ.

Nơi sông Chảy đổ vào hồ Thác Bà là vùng chuyển tiếp: nước chảy chậm dần, phù sa lắng xuống, tạo những bãi bồi mới ở thượng hồ. Mùa nước hồ thấp, các bãi này lộ ra, người dân tranh thủ trồng một vụ màu ngắn ngày. Mùa nước hồ dâng, bãi lại chìm. Đây là kiểu canh tác chỉ có ở vùng tiếp giáp giữa sông và hồ chứa.

Thủy điện nhỏ trên các ngòi suối

Từ khoảng hai thập kỷ gần đây, nhiều ngòi suối của vùng Yên Bái cũ có thêm các nhà máy thủy điện nhỏ. Địa hình dốc, nước nhiều vào mùa mưa là điều kiện thuận để làm thủy điện. Những công trình này cung cấp điện, có đường vào làm thuận lợi hơn cho một số bản vùng sâu.

Mặt khác, thủy điện nhỏ làm thay đổi dòng chảy tự nhiên. Đoạn suối sau đập có lúc gần cạn vào mùa khô; khi xả nước, mực nước lại lên nhanh. Người dân ven suối phía dưới các công trình cần theo dõi thông báo vận hành, không tắm, không bắt cá dưới lòng suối khi chưa chắc chắn không có xả nước.

Đánh giá đầy đủ tác động của thủy điện nhỏ là việc của cơ quan chuyên môn. Với người sống tại chỗ, điều quan trọng là biết có công trình nào ở thượng nguồn suối gần nhà, ai vận hành, và kênh nhận thông báo là gì. Chính quyền xã thường là nơi nắm thông tin này.

Nước sinh hoạt vùng cao: từ khe suối về bể chứa

Với nhiều bản vùng cao ở Mù Cang Chải, Trạm Tấu, vùng cao Văn Chấn, nước sinh hoạt không đến từ giếng khoan mà từ khe suối trên núi. Người dân đặt ống nhựa hoặc máng tre từ đầu nguồn về bể chứa trong bản, rồi chia về từng nhà. Nhiều công trình nước tự chảy do Nhà nước hỗ trợ cũng theo đúng nguyên lý này: chọn nguồn ở cao hơn bản, dẫn nước theo độ dốc tự nhiên.

Hệ thống nước tự chảy hoạt động tốt trong mùa mưa nhưng dễ gặp khó vào cuối mùa khô, khi khe suối cạn dần, thường quanh tháng Hai, tháng Ba. Một số bản phải luân phiên lấy nước, hoặc đi xa hơn để gánh nước. Mùa mưa thì ngược lại: lũ có thể cuốn trôi đường ống, làm vỡ đập đầu nguồn, đất đá làm đục bể chứa.

Người mới đến làm việc, mở homestay ở vùng cao nên hỏi kỹ nguồn nước của bản: nước lấy từ đâu, có đủ dùng quanh năm không, mùa khô có bị cạn không. Nước khe suối nhìn trong nhưng vẫn nên đun sôi trước khi uống. Kinh doanh lưu trú cần tính trước bể chứa dự phòng để không tranh nước với bà con trong những tháng khô.

Đọc tính khí của ngòi suối trước mùa mưa

Mùa khô nước cạn không có nghĩa là an toàn. Những lòng suối khô trơ đá vào tháng Hai, tháng Ba có thể biến thành dòng lũ trong vài giờ khi mưa lớn đầu mùa. Không dựng lán trại, đỗ xe hay cắm trại giữa lòng suối khô.

Nước đục bất thường là dấu hiệu nên tránh xa. Khi nước suối đột ngột đục ngầu, có cành cây, bọt trôi, nghe tiếng ầm từ thượng nguồn trong lúc trời đang mưa, đó là dấu hiệu lũ đang về. Lên chỗ cao ngay, không cố qua suối.

Ngầm tràn là điểm nguy hiểm thường gặp. Nhiều đường vùng cao đi qua suối bằng ngầm tràn. Khi nước chảy qua ngầm, không cố lái xe hay dắt xe qua; dòng nước tưởng nông có thể đẩy trôi cả xe máy lẫn người.

Quy ước dùng nước của bản cần được tôn trọng. Người mới đến làm homestay, trang trại muốn lấy nước suối nên hỏi trưởng bản, chính quyền xã về quy ước dùng nước và thủ tục hiện hành, tránh ảnh hưởng tới ruộng của các hộ phía dưới.

Câu hỏi thường gặp

Sông Chảy có chảy qua thành phố Yên Bái cũ không?

Không. Sông Chảy chảy ở phía đông, qua vùng Lục Yên và Yên Bình vào hồ Thác Bà rồi về Phú Thọ nhập sông Lô. Dòng sông chảy qua trung tâm phường Yên Bái là sông Hồng. Hai sông cách nhau bởi dãy Con Voi.

Vì sao nước sông Chảy trong hơn nước sông Hồng?

Lưu vực sông Chảy phía trên Lục Yên ít đất đỏ bị xói mòn mạnh như lưu vực sông Hồng, và phần lớn phù sa còn lại lắng xuống đáy hồ Thác Bà. Vì vậy nước sông Chảy, nhất là đoạn dưới đập, thường trong hơn nước sông Hồng mang nhiều phù sa đỏ.

Mương phai của người Thái Mường Lò có còn được dùng không?

Còn. Nhiều đoạn mương đã được bê tông hoá và nhiều phai đã thay bằng đập kiên cố, nhưng nguyên lý dẫn nước tự chảy từ Ngòi Thia và suối nhánh vào ruộng vẫn được duy trì. Việc chia nước giữa các bản vẫn theo quy ước cộng đồng kết hợp với quản lý của địa phương.

Nậm Kim ở Mù Cang Chải chảy về đâu?

Nậm Kim thuộc lưu vực sông Đà. Nước từ thung lũng trung tâm Mù Cang Chải chảy về phía tây, qua các suối lớn hơn để nhập vào hệ thống sông Đà. Đây là khác biệt lớn với phía bên kia đèo Khau Phạ, nơi nước chảy về sông Hồng.

Tắm suối ở vùng Yên Bái cũ cần lưu ý gì?

Chỉ tắm ở chỗ nước nông, chảy chậm, có người địa phương chỉ dẫn; không tắm khi trời đang mưa hoặc vừa mưa lớn ở thượng nguồn; tránh đoạn suối phía dưới thủy điện nhỏ. Đá lòng suối trơn rêu, nước lạnh dễ gây chuột rút, trẻ em luôn cần người lớn đi kèm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.