Hồ Thác Bà là hồ nhân tạo hình thành khi người ta xây đập thủy điện chắn ngang sông Chảy ở vùng Yên Bình, tỉnh Yên Bái cũ, từ những năm 1960; tổ máy đầu tiên của nhà máy thủy điện Thác Bà phát điện năm 1971. Nước dâng lên ngập các thung lũng và đồi thấp hai huyện Yên Bình, Lục Yên cũ, để lại một mặt hồ rộng khoảng hai mươi ba nghìn hecta với hơn một nghìn đảo lớn nhỏ.
Ngày nay người ta đến Thác Bà để ngắm cảnh, ăn cá, thăm hang; nhưng với người sống quanh hồ, đây trước hết là câu chuyện về một vùng đất đã thay đổi hoàn toàn trong vòng một thế hệ. Phần dưới kể lại lai lịch hồ: tên gọi, con đập, quá trình nước dâng, các đảo, và hồ đang vận hành ra sao trong đời sống vùng hạ du sông Chảy, sông Lô.
Tên Thác Bà từ đâu ra
Trước khi có hồ, sông Chảy đoạn qua vùng này chảy qua nhiều ghềnh thác, lòng sông hẹp, đá ngầm lởm chởm, thuyền bè đi lại khó khăn. Một trong những ngọn thác hiểm được người địa phương gọi là thác Bà. Theo truyền thuyết lưu truyền trong vùng, tên thác gắn với một người phụ nữ được dân tôn làm bà chúa, người đã giúp thuyền bè vượt thác an toàn; ven sông có đền thờ bà.
Các bản kể về nhân vật này không thống nhất, có bản gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu vùng sông nước, có bản là chuyện một người phụ nữ địa phương. Điều chắc chắn là tên Thác Bà có từ trước khi có hồ, rồi được dùng đặt cho công trình thủy điện, thị trấn Thác Bà cũ, và nay là xã Thác Bà sau sắp xếp năm 2025. Đền Thác Bà hiện nằm gần chân đập, là di tích văn hoá quen thuộc của người quanh vùng.
Như vậy, ngọn thác đã biến mất dưới mặt nước nhưng tên gọi còn lại trên khắp vùng. Khi người ta nói "lên Thác Bà", có thể là nói về khu vực đập và xã Thác Bà, cũng có thể là nói chung về cả hồ. Người đọc tài liệu nên để ý ngữ cảnh để không nhầm.
Con đập và nhà máy thủy điện đầu tiên của miền Bắc
Công trình thủy điện Thác Bà được xây dựng từ đầu những năm 1960, với sự giúp đỡ kỹ thuật của Liên Xô, trong bối cảnh miền Bắc cần nguồn điện cho công nghiệp. Việc thi công kéo dài, có giai đoạn bị gián đoạn vì chiến tranh. Tổ máy đầu tiên phát điện năm 1971, các tổ máy còn lại hoàn thành sau đó. Nhà máy thường được nhắc là nhà máy thủy điện lớn đầu tiên của Việt Nam, và nhiều thế hệ kỹ sư thủy điện từng làm việc ở đây trước khi đi xây các công trình lớn hơn.
Nhà máy có ba tổ máy, tổng công suất thiết kế 108 MW. Con số này nhỏ so với các nhà máy trên sông Đà sau này, nhưng ở thời điểm ra đời là nguồn điện đáng kể cho lưới miền Bắc. Đập chính nằm ở khu vực thị trấn Thác Bà cũ; ngoài đập chính còn các đập phụ chắn những chỗ yên ngựa thấp quanh hồ để nước không tràn sang lưu vực khác.
Trong chiến tranh, khu vực nhà máy từng bị đánh phá. Người lớn tuổi ở Thác Bà, Hán Đà, Vĩnh Kiên vẫn còn kể lại những năm vừa xây vừa sửa, vừa sơ tán. Câu chuyện này được nhắc lại trong các dịp kỷ niệm của nhà máy và trong lịch sử địa phương xã Thác Bà.
Nước dâng ngập những gì
Hồ Thác Bà không phải hồ tự nhiên, nên đáy hồ là địa hình cũ của thung lũng sông Chảy và các suối nhánh: ruộng, làng, đường mòn, bãi bồi. Khi đập tích nước, những vùng thấp nhất ngập trước, sau đó nước lan dần vào các thung lũng nhánh, tạo thành hình dạng hồ dài và nhiều nhánh như ngón tay.
Hàng nghìn hộ dân sống ở vùng lòng hồ phải di chuyển lên vùng cao hơn quanh hồ hoặc đi nơi khác. Nhiều làng ven hồ hiện nay, ở các xã Yên Bình, Yên Thành, Cảm Nhân, Bảo Ái, Thác Bà, là nơi tái định cư của chính những gia đình ấy. Ký ức về làng cũ dưới lòng hồ vẫn còn trong gia phả, trong tên một số bến, một số gò đồi.
Việc di dân và mất đất ruộng để lại hệ quả lâu dài. Đất bằng ít đi, người dân chuyển sang trồng rừng, trồng chè, sắn trên đồi, đánh bắt và nuôi cá. Một phần lý do kinh tế quanh hồ đến nay vẫn dựa nhiều vào rừng trồng và thủy sản bắt nguồn từ đây.
Đảo trên hồ: những đỉnh đồi còn nhô khỏi mặt nước
Hơn một nghìn hòn đảo trên hồ Thác Bà, theo con số thường được nhắc, thực chất là đỉnh của các đồi, núi cũ. Đồi càng cao thì đảo càng lớn; đồi thấp thì chỉ còn mỏm nhỏ, mùa nước cạn mới lộ thêm phần chân. Vì vậy số đảo và hình dạng đảo thay đổi theo mực nước: mùa nước lên, một số đảo nhỏ chìm hẳn; mùa nước xuống, những dải đất nối các đảo lại hiện ra.
Phía thượng hồ, gần Lục Yên và một số xã cũ của Yên Bình, có nhiều núi đá vôi. Khi bị ngập một phần, núi đá tạo ra cảnh quan rất khác: vách đá dựng sát mặt nước, hang động khoét vào chân núi. Một số hang như động Thủy Tiên, động Xuân Long nằm trong vùng này và từ lâu đã được biết đến như điểm tham quan.
Phần lớn đảo được phủ rừng trồng hoặc rừng tái sinh: keo, bồ đề, tre nứa, cây bụi. Một số đảo lớn có người ở, có vườn, có chuồng trại. Nhiều đảo nhỏ là nơi cò, chim nước trú ngụ. Người dân quanh hồ vẫn quen gọi tên từng đảo theo hình dáng hay theo câu chuyện của làng, những cái tên ít khi xuất hiện trên bản đồ chính thức. Người mới đến muốn hỏi đường trên hồ nên hỏi theo tên bến, tên làng ven bờ, vì đó là cách người chèo thuyền định vị.
Hình dạng hồ nhìn theo các xã ven bờ
Nếu nhìn từ trên cao, hồ Thác Bà giống một dải nước dài chạy theo hướng tây bắc – đông nam, song song với dãy Con Voi, đầu dưới là đập ở xã Thác Bà, đầu trên vươn lên phía Lục Yên, nơi sông Chảy đổ vào. Hai bên dải nước chính là vô số nhánh hồ ăn sâu vào các thung lũng suối cũ, có nhánh dài vài cây số, hẹp như một con sông nhỏ.
Bờ tây nam của hồ, phía dãy Con Voi, thuộc các xã mới Yên Bình, Thác Bà và một phần Yên Thành. Đây là phía gần quốc lộ 70 và gần phường Yên Bái, Văn Phú, nên đông dân và nhiều bến thuyền hơn. Bờ đông bắc thuộc các xã Cảm Nhân, Bảo Ái và phần Yên Thành, địa hình đồi núi kéo dài sang phía Tuyên Quang, đường bộ vòng vèo, nhiều nơi đi thuyền qua hồ còn nhanh hơn đi đường bộ. Phần thượng hồ thuộc vùng Lục Yên cũ, cảnh núi đá vôi rõ hơn.
Chính hình dạng nhiều nhánh khiến hồ có đường bờ rất dài so với diện tích, và tạo ra nhiều vũng kín gió. Những vũng này là nơi người dân đặt lồng cá, neo thuyền, và cũng là nơi nước tĩnh, ấm hơn, cá về đẻ. Ngược lại, giữa dải nước chính thoáng gió, sóng lớn hơn khi có giông. Người đi thuyền quanh hồ quen chọn lối men theo các nhánh và đảo để tránh gió.
Độ sâu của hồ không đều. Lòng sông Chảy cũ chạy giữa hồ là phần sâu nhất, còn các nhánh ven bờ và chân đảo thì nông. Vì vậy cùng một vị trí có thể là bãi đất khô mùa cạn và mặt nước sâu vài mét mùa nước dâng. Ngư dân địa phương nắm rất kỹ địa hình đáy hồ, đó là một kiểu hiểu biết chỉ có ở người sống lâu năm quanh đây.
Hồ đang làm gì: điện, cắt lũ, nước và cá
Chức năng đầu tiên của hồ là phát điện. Nhưng cùng với thời gian, hồ Thác Bà còn đảm nhận nhiệm vụ điều tiết lũ cho hạ du sông Chảy, sông Lô, góp phần giảm lũ cho vùng đồng bằng. Mùa mưa, hồ phải giữ một dung tích trống để đón lũ; khi nước lên quá mức an toàn thì mở cửa xả theo quy trình vận hành do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Tháng 9 năm 2024, khi bão Yagi và hoàn lưu gây mưa rất lớn, hồ Thác Bà phải mở nhiều cửa xả. Các xã ven sông Chảy phía hạ du và vùng giáp Phú Thọ được yêu cầu theo dõi sát thông báo xả lũ. Sự kiện này nhắc người dân ở hạ du rằng sống cạnh một hồ chứa lớn nghĩa là phải biết đọc thông báo xả và có kế hoạch di chuyển khi cần.
Ngoài điện và lũ, hồ cung cấp nước, là nơi nuôi cá lồng, đánh bắt cá tự nhiên, đường thủy nối các xã ven hồ, và ngày càng nhiều là điểm du lịch. Mỗi chức năng đòi hỏi mực nước khác nhau, nên việc điều hành hồ luôn là bài toán cân bằng giữa phát điện, an toàn hạ du và sinh kế của người quanh hồ.
Những điều nên biết nếu sống hoặc làm việc gần hồ
Với người mới chuyển đến các xã ven hồ hay làm việc ở khu vực đập, mấy điều sau đây hữu ích hơn mọi lời giới thiệu cảnh đẹp:
- Mực nước hồ dao động theo mùa và theo vận hành nhà máy; bãi đất lộ ra mùa cạn có thể ngập trở lại khi hồ tích nước, đừng dựng lều trại, đặt đồ đạc lâu dài ở đó.
- Vùng hạ du sau đập chịu ảnh hưởng trực tiếp khi hồ xả; người ở ven sông Chảy phía dưới đập cần theo dõi thông báo của chính quyền xã và đơn vị vận hành nhà máy.
- Đi thuyền trên hồ cần áo phao, không đi khi có giông gió; mặt hồ rộng, sóng có thể lên nhanh.
- Một số khu vực quanh đập và nhà máy là khu vực hạn chế, không tự ý vào, không bay thiết bị khi chưa được phép.
- Muốn nuôi cá lồng, mở dịch vụ trên hồ cần hỏi thủ tục cấp phép, quy định sử dụng mặt nước hiện hành tại cơ quan địa phương.
Hồ Thác Bà là công trình lớn đã gắn với đời sống vùng này hơn nửa thế kỷ. Hiểu nó vận hành ra sao giúp người sống quanh hồ chủ động hơn, nhất là trong mùa mưa lũ.
Câu hỏi thường gặp
Hồ Thác Bà nằm ở đâu sau khi sáp nhập tỉnh?
Hồ nằm trên vùng Yên Bình và Lục Yên của tỉnh Yên Bái cũ, nay thuộc tỉnh Lào Cai. Các xã mới quanh hồ gồm Thác Bà, Yên Bình, Yên Thành, Cảm Nhân, Bảo Ái và một số xã của vùng Lục Yên cũ. Khu đập và nhà máy nằm ở xã Thác Bà, trước là thị trấn Thác Bà.
Hồ Thác Bà có phải hồ tự nhiên không?
Không. Đây là hồ nhân tạo, hình thành khi đập thủy điện chắn sông Chảy. Đáy hồ là thung lũng và đồi núi cũ, các đảo là đỉnh đồi còn nhô lên. Vì vậy hồ có hình dạng dài, nhiều nhánh, không tròn đều như hồ tự nhiên trên núi.
Hồ Thác Bà rộng bao nhiêu và có bao nhiêu đảo?
Con số thường được nhắc là mặt hồ khoảng hai mươi ba nghìn hecta, với hơn một nghìn ba trăm đảo lớn nhỏ. Diện tích mặt nước và số đảo thực tế thay đổi theo mực nước từng mùa, nên nên hiểu đây là con số ước lượng ở mực nước dâng bình thường.
Nhà máy thủy điện Thác Bà có công suất bao nhiêu?
Nhà máy có ba tổ máy với tổng công suất thiết kế 108 MW. Tổ máy đầu tiên phát điện năm 1971. So với các nhà máy thủy điện xây sau này, đây là công suất nhỏ, nhưng Thác Bà có ý nghĩa lịch sử vì là nhà máy thủy điện lớn đầu tiên của Việt Nam.
Khi hồ Thác Bà xả lũ, người dân cần làm gì?
Người ở vùng hạ du sông Chảy cần theo dõi thông báo xả lũ từ đơn vị vận hành và chính quyền xã, không đi lại, đánh bắt cá ở lòng sông khi đang xả, chuẩn bị di chuyển người và tài sản lên chỗ cao nếu được yêu cầu. Mức xả và thời gian xả cụ thể luôn phải kiểm theo thông báo của từng đợt.
Đền Thác Bà có liên quan gì đến tên hồ?
Đền Thác Bà là nơi người địa phương thờ bà chúa gắn với ngọn thác xưa trên sông Chảy, từ đó có tên Thác Bà. Ngọn thác đã chìm dưới mặt hồ khi xây đập, nhưng đền vẫn được giữ gìn gần chân đập như một di tích văn hoá của vùng.