Ngoài quế và chè, phần lớn đồi thấp của vùng Yên Bái cũ được phủ bởi rừng trồng: keo, bạch đàn, bồ đề cho gỗ nguyên liệu, và tre, nhất là tre Bát Độ ở Trấn Yên, Văn Yên, cho măng. Gỗ đi vào các xưởng bóc ván, băm dăm, làm ván ép; măng được bán tươi, luộc đóng thùng, phơi khô hoặc muối chua.
Đây là thứ kinh tế ít được nói tới nhưng phủ diện tích lớn nhất. Hầu như hộ nào ở vùng thấp cũng có vài mảnh rừng trồng, và dọc quốc lộ 37, quốc lộ 70, đường dọc sông Hồng có rất nhiều xưởng chế biến gỗ nhỏ.
Bài này giải thích từng loại cây, chu kỳ thu hoạch, chuỗi chế biến và những vấn đề thường gặp. Không nêu giá gỗ, giá măng, và không khuyên trồng cây nào: chỉ giúp hiểu vì sao đồi Yên Bái trông như hiện nay.
Rừng trồng thay rừng tự nhiên ở vùng thấp
Vùng thấp của Yên Bái cũ từng có rừng tự nhiên dày, nhưng qua nhiều thập kỷ khai thác, phát nương làm rẫy, phần lớn rừng tự nhiên ở đồi thấp đã mất. Từ cuối thế kỷ hai mươi, các chương trình trồng rừng và giao đất giao rừng cho hộ gia đình đã phủ xanh lại các đồi trọc bằng cây trồng có chu kỳ ngắn.
Ngày nay, khi đi trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai qua vùng Yên Bái cũ, phần lớn màu xanh hai bên là rừng trồng. Rừng tự nhiên còn lại chủ yếu ở vùng cao, vùng xa và trong các khu bảo tồn như khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải, khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu ở Văn Yên cũ.
Rừng trồng khác rừng tự nhiên ở chỗ nó là một loại cây trồng: có chu kỳ, có thu hoạch, có tái trồng. Người dân coi đó là ruộng trên đồi. Nhờ rừng trồng, nhiều hộ có thu nhập từ đất dốc mà trước đây gần như bỏ trống. Mặt khác, rừng trồng thuần một loài không giữ được đa dạng sinh học như rừng tự nhiên, và chặt trắng cả lô dễ gây xói mòn.
Phân biệt rõ hai loại rừng này giúp hiểu đúng những con số về độ che phủ rừng mà các báo cáo hay nhắc: phần lớn diện tích tăng thêm là rừng trồng sản xuất, không phải rừng tự nhiên phục hồi.
Các loại cây rừng trồng chính và công dụng
Mỗi loại cây có chỗ đứng riêng trong kinh tế lâm nghiệp vùng này. Bảng sau so sánh những loài phổ biến nhất ở vùng Yên Bái cũ, theo kinh nghiệm chung của người trồng, không phải số liệu đo đạc chính thức.
| Loài cây | Chu kỳ khai thác thường gặp | Sản phẩm chính |
|---|---|---|
| Keo (keo lai, keo tai tượng) | Vài năm cho gỗ nhỏ; để lâu hơn cho gỗ lớn | Gỗ bóc ván, dăm gỗ, gỗ xẻ khi để lâu năm |
| Bạch đàn | Tương tự keo, tái sinh chồi được | Gỗ nguyên liệu, cột chống, dăm gỗ |
| Bồ đề | Ngắn đến trung bình | Nguyên liệu giấy, đũa, que, ván mỏng |
| Tre Bát Độ | Cho măng hằng năm sau khi bụi tre ổn định | Măng tươi, măng luộc, măng khô; thân tre làm vật liệu |
| Tre luồng, vầu | Khai thác thân theo năm tuổi | Vật liệu xây dựng, đan lát, đồ gia dụng |
| Quế | Dài, nhiều năm | Vỏ, tinh dầu, gỗ sau bóc vỏ |
Keo hiện là loài phổ biến nhất vì dễ trồng, lớn nhanh, có nhiều xưởng mua. Bồ đề là loài gắn với lịch sử vùng này: Yên Bái từng là một phần vùng nguyên liệu giấy cho nhà máy giấy Bãi Bằng ở Phú Thọ, và bồ đề, tre nứa được trồng, khai thác để cung cấp cho nhà máy suốt nhiều năm.
Tre Bát Độ và nghề làm măng
Tre Bát Độ là giống tre lấy măng, bụi lớn, măng to, ăn ngọt, được đưa vào trồng ở vùng Yên Bái cũ từ khoảng đầu những năm 2000. Trấn Yên và Văn Yên là hai vùng trồng nhiều nhất, trên các đồi thấp và đất bãi ven sông, ven suối. Từ vài mô hình ban đầu, diện tích tre Bát Độ đã mở rộng thành vùng hàng hoá có quy mô.
Măng Bát Độ thu hoạch chủ yếu trong mùa mưa, khoảng từ cuối xuân đến thu, rộ nhất vào giữa hè. Người trồng đi bẻ măng từ sáng sớm, khi măng vừa nhú khỏi mặt đất, vì để lâu măng già, xơ và đắng. Mùa măng rộ, xe thu mua chạy về tận chân đồi, cơ sở chế biến làm cả ngày đêm.
Măng tươi một phần bán ngay cho chợ trong vùng và thương lái đưa về Hà Nội. Phần lớn được luộc, ngâm, đóng thùng hoặc túi để giữ được lâu; một phần phơi hoặc sấy thành măng khô, một phần muối chua. Các sản phẩm chế biến đi thị trường trong nước và xuất khẩu.
Với hộ trồng, tre Bát Độ có ưu điểm là cho thu hằng năm sau khi bụi đã lớn, không phải chờ nhiều năm như quế, cũng không phải trồng lại sau mỗi lần khai thác như keo. Nhược điểm là công bẻ măng nhiều, phụ thuộc thu mua trong mùa rộ, và giá măng tươi có thể xuống thấp khi tất cả cùng thu hoạch một lúc.
Đường đi của một cây keo: từ đồi tới xưởng
Gỗ keo là nguyên liệu chính của các xưởng chế biến nhỏ ở vùng thấp. Hiểu chuỗi này giúp thấy rõ vì sao giá gỗ người trồng nhận được thường thấp hơn nhiều so với giá ván thành phẩm.
- Hộ trồng hoặc thương lái thuê người chặt hạ cả lô keo đến tuổi, cắt khúc theo chiều dài mà xưởng yêu cầu.
- Gỗ được kéo ra đường bằng sức người, xe công nông hoặc trâu kéo trên đường dốc, bước tốn công nhất ở vùng đồi.
- Xe tải chở gỗ về xưởng bóc ván: khúc gỗ được quay trên máy để bóc thành tấm ván mỏng, phần lõi còn lại bán làm củi, làm dăm.
- Ván bóc được phơi khô trên các bãi ven đường, cảnh rất dễ nhận ra khi đi qua vùng Yên Bái cũ vào ngày nắng.
- Ván khô bán cho nhà máy ván ép, ván ghép thanh, đồ gỗ nội thất ở trong và ngoài tỉnh; ngọn, cành, vỏ đi vào băm dăm hoặc làm viên nén nhiên liệu.
Ở khâu cuối, giá trị tạo ra lớn hơn nhiều so với khâu đầu, nhưng các nhà máy ván ép quy mô lớn phần nhiều đặt ở nơi khác. Vì vậy, các dự án thu hút nhà máy chế biến gỗ sâu về gần vùng nguyên liệu luôn được nhắc tới trong quy hoạch của tỉnh.
Những vấn đề của nghề rừng trồng
Chu kỳ ngắn, gỗ nhỏ. Nhiều hộ cần tiền nên khai thác keo khi cây còn non, gỗ chỉ dùng được cho ván bóc, dăm gỗ, giá trị thấp. Để keo lâu năm thành gỗ lớn sẽ có giá trị cao hơn nhưng phải chờ lâu và chịu rủi ro gió bão.
Gió bão và sạt lở. Rừng keo rễ nông, gặp gió lớn dễ đổ hàng loạt. Đợt bão và mưa lũ năm 2024 làm đổ, gãy nhiều diện tích rừng trồng ở vùng Yên Bái cũ, buộc nhiều hộ phải khai thác sớm hoặc trồng lại.
Đường lâm nghiệp. Đường ra vào rừng trồng hẹp, dốc, mùa mưa lầy lội, làm chi phí vận chuyển cao. Xe chở gỗ quá tải cũng làm hỏng đường giao thông nông thôn, một vấn đề quen thuộc ở nhiều xã.
Chứng chỉ rừng. Một số diện tích rừng trồng đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững để bán gỗ vào thị trường khó tính. Tuy vậy, phần lớn hộ nhỏ chưa có, vì cần liên kết, ghi chép và chi phí đánh giá.
An toàn lao động. Chặt hạ cây, vận chuyển gỗ trên dốc, vận hành máy bóc ván đều là việc nguy hiểm. Tai nạn lao động trong các xưởng gỗ nhỏ không hiếm, nên người làm cần được hướng dẫn và trang bị bảo hộ.
Rừng, măng và đời sống người dân vùng thấp
Với người dân Văn Yên, Trấn Yên, Yên Bình, rừng trồng là một phần quen thuộc của đời sống. Đồi keo của nhà là khoản để dành; bụi tre là nguồn măng ăn hằng ngày trong mùa mưa và là thứ bán được tiền. Người già thường giữ đồi, đi thăm cây, người trẻ đi làm xa, đến mùa chặt keo, mùa măng rộ mới về phụ.
Rừng trồng còn tạo việc làm tại chỗ: thợ chặt, thợ bốc, lái xe, công nhân xưởng bóc ván, xưởng măng. Nhiều xưởng gỗ nhỏ ở ven quốc lộ là nơi làm việc của lao động trong xã, nhất là nam giới. Mùa măng thì cần nhiều lao động nữ ở khâu sơ chế.
Gần đây, một số hộ bắt đầu trồng rừng gỗ lớn, trồng xen cây bản địa, hoặc trồng dược liệu dưới tán rừng, để có thu nhập khác trong lúc chờ cây. Đây là hướng được ngành lâm nghiệp khuyến khích, nhưng cần thời gian, vốn và kỹ thuật, nên chưa phổ biến. Nếu đi qua vùng này và thấy những đồi keo xen vài hàng cây gỗ bản địa hay mảng sa nhân, ba kích dưới tán, đó thường là các mô hình thử nghiệm kiểu này.
Hiểu lầm thường gặp về rừng trồng và măng
"Đồi xanh là rừng tự nhiên." Phần lớn đồi xanh ở vùng thấp Yên Bái cũ là rừng trồng keo, bạch đàn, bồ đề, tre. Chúng có giá trị kinh tế và giữ đất nhất định, nhưng không thay được rừng tự nhiên về đa dạng loài, khả năng điều tiết nước. Rừng tự nhiên còn lại chủ yếu ở vùng cao và trong các khu bảo tồn.
"Trồng keo là nhàn, cứ trồng rồi chờ bán." Keo cần chăm trong mấy năm đầu, phải phòng cháy mùa khô, phòng gió bão, và bán được giá hay không phụ thuộc đường vận chuyển, tuổi cây, thời điểm thị trường. Nhiều hộ chỉ nhận được phần nhỏ trong giá trị cuối cùng vì phải bán qua nhiều khâu trung gian.
"Măng nào cũng là măng Bát Độ." Vùng Yên Bái cũ có nhiều loại măng: măng tre, măng luồng, măng nứa, măng vầu, măng rừng của các loài tre bản địa. Măng Bát Độ là một giống cụ thể, măng to, thường bán theo tên riêng. Người mua số lượng lớn nên hỏi rõ loại măng và nguồn gốc.
"Măng khô càng trắng càng tốt." Măng khô phơi tự nhiên thường có màu vàng nâu. Măng trắng bất thường có thể đã qua xử lý bằng hoá chất tẩy. Người mua nên chọn cơ sở có địa chỉ rõ, có thông tin về cách chế biến, thay vì chỉ chọn theo màu.
Câu hỏi thường gặp
Măng Bát Độ trồng nhiều nhất ở đâu trong vùng Yên Bái cũ?
Vùng trồng tre Bát Độ tập trung nhất là Trấn Yên và Văn Yên cũ, nay thuộc các xã như Trấn Yên, Quy Mông, Hưng Khánh, Lương Thịnh, Việt Hồng, Đông Cuông, Mậu A. Tre được trồng trên đồi thấp, đất bãi ven sông Hồng, ven suối, gần đường để tiện thu mua.
Rừng trồng ở Yên Bái chủ yếu là cây gì?
Phần lớn là keo, sau đó là bạch đàn, bồ đề, tre luồng, tre Bát Độ và quế. Keo phổ biến nhất vì dễ trồng, lớn nhanh, nhiều xưởng mua. Ở vùng cao, rừng tự nhiên còn nhiều hơn và rừng trồng chiếm tỷ lệ thấp hơn so với vùng thấp.
Vì sao dọc đường ở Yên Bái thấy nhiều bãi phơi ván?
Đó là ván bóc từ gỗ keo, bạch đàn của các xưởng bóc ván nhỏ trong vùng. Ván phải phơi khô trước khi bán cho nhà máy ván ép. Những ngày nắng, ván được dựng thành hàng dài ven quốc lộ và đường xã, là cảnh rất đặc trưng của vùng rừng trồng.
Bồ đề Yên Bái có liên quan gì tới nhà máy giấy Bãi Bằng?
Nhà máy giấy Bãi Bằng ở Phú Thọ cần một vùng nguyên liệu lớn gồm tre nứa, bồ đề và các loại gỗ mềm. Vùng Yên Bái cũ, cùng các tỉnh lân cận, là một phần của vùng nguyên liệu này trong nhiều năm, nên bồ đề được trồng nhiều ở đồi thấp Yên Bái.
Mùa măng Bát Độ là khi nào?
Măng Bát Độ ra chủ yếu trong mùa mưa, thường khoảng từ cuối xuân tới mùa thu, rộ nhất vào các tháng giữa hè. Thời điểm cụ thể thay đổi theo thời tiết từng năm và theo tuổi bụi tre. Người mua măng tươi số lượng lớn nên hỏi trước các hợp tác xã trong vùng.
Có thể tham quan vùng tre măng, xưởng gỗ ở Yên Bái không?
Đi qua các xã vùng thấp ven quốc lộ là thấy đồi tre, đồi keo và bãi phơi ván. Muốn vào xưởng hay đồi của người dân thì nên hỏi chủ trước. Không đứng gần máy bóc ván, đường kéo gỗ và khu vực đang chặt hạ cây vì rất nguy hiểm.