Vùng đất Yên Bái có người ở từ rất sớm. Hiện vật nổi tiếng nhất là thạp đồng Đào Thịnh, tìm thấy ở ven sông Hồng thuộc Trấn Yên, nay là bảo vật quốc gia và được xếp vào nhóm hiện vật tiêu biểu của văn hoá Đông Sơn. Qua các triều đại phong kiến, vùng này là miền thượng du nằm giữa đồng bằng và biên giới, khi thuộc trấn Hưng Hoá, khi thuộc Tuyên Quang, chưa từng là một tỉnh riêng cho tới năm 1900.
Bài này đi qua các lớp lịch sử trước khi tỉnh Yên Bái ra đời: thời cổ với dấu vết đồ đồng, thời Lý – Trần – Lê với các châu, phủ miền núi, và thời Nguyễn khi vùng đất chia làm hai phần thuộc hai tỉnh. Mục đích là giúp bạn đọc các di tích, tên làng, tên châu ở đây với đúng bối cảnh của chúng.
Thạp đồng Đào Thịnh và dấu vết người Việt cổ bên sông Hồng
Thạp đồng Đào Thịnh được phát hiện năm 1960 ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên cũ, ngay bên bờ sông Hồng. Đây là một chiếc thạp lớn có nắp, trên nắp có tượng các cặp nam nữ, thân thạp khắc hoa văn thuyền, chim, người, những đề tài quen thuộc của đồ đồng Đông Sơn. Năm 2012, thạp được công nhận là bảo vật quốc gia trong đợt đầu tiên.
Ý nghĩa lớn nhất của thạp không nằm ở kích thước mà ở chỗ nó cho thấy vùng sông Hồng thượng du đã nằm trong không gian văn hoá Đông Sơn, cùng thời với các trung tâm ở đồng bằng. Người sống ở đây biết đúc đồng, làm ruộng, đi thuyền, có đời sống nghi lễ phong phú. Ngoài thạp Đào Thịnh, các đợt khảo cổ ở vùng Trấn Yên, Văn Chấn, Yên Bình còn ghi nhận rìu đồng, trống đồng và công cụ đá ở nhiều mức tuổi khác nhau.
Khi đi dọc quốc lộ 37 hay đường ven sông qua vùng Trấn Yên cũ, khó thấy dấu vết thời ấy trên mặt đất. Hiện vật gốc được bảo quản ở bảo tàng, còn ở địa phương, tên Đào Thịnh và câu chuyện chiếc thạp được nhắc lại trong sách giáo khoa địa phương và các buổi sinh hoạt văn hoá. Vùng xã Đào Thịnh cũ đã qua những lần điều chỉnh địa giới trước năm 2025, nên nếu muốn tìm đúng nơi phát hiện, nên hỏi người địa phương theo tên thôn.
Thời Lý – Trần: miền thượng du của lộ Quy Hoá
Từ thời Lý, Trần, phần lớn vùng đất Yên Bái ngày nay thuộc khu vực miền núi phía tây bắc của Đại Việt, thường được ghi là đất Quy Hoá. Triều đình quản lý vùng này chủ yếu qua các tù trưởng địa phương, những dòng họ có thế lực ở từng mường, từng châu. Họ nhận chức tước, nộp cống, giữ yên biên giới, còn đời sống bên trong mường vẫn theo luật tục riêng.
Đây là cách quản lý phổ biến ở miền núi thời ấy: không đặt bộ máy dày đặc như ở đồng bằng mà dựa vào các thủ lĩnh bản địa. Vì vậy dấu vết hành chính thời Lý – Trần ở Yên Bái không nhiều, chủ yếu còn trong tên vùng, tên châu được chép lại ở các bộ sử và địa chí đời sau. Sông Hồng và sông Chảy là hai trục giao thông chính, nối miền ngược với kinh đô.
Người Thái ở cánh đồng Mường Lò có truyền thuyết riêng về thời khai mường, về các vị thủ lĩnh dẫn dân đến khai phá thung lũng. Những truyền thuyết này được giữ trong sử thi, trong lời mo và trong các lễ hội như lễ hội Mường Lò. Chúng không thay thế được sử liệu, nhưng cho thấy cánh đồng Mường Lò là một trung tâm cư trú lâu đời của người Thái ở phía tây vùng đất.
Thời Lê: trấn Hưng Hoá và các châu Văn Chấn, Thuỷ Vĩ
Dưới thời Lê, miền núi tây bắc được tổ chức thành trấn Hưng Hoá, một trong những trấn lớn và xa nhất. Phần đất Yên Bái hiện nay khi đó thuộc phủ Quy Hoá của trấn này, gồm các huyện, châu như Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Bàn, Thuỷ Vĩ. Cách gọi "huyện" thường dùng cho vùng thấp có nhiều người Kinh, còn "châu" dùng cho vùng cao do thủ lĩnh dân tộc thiểu số cai quản.
Riêng phần phía đông bắc, nơi nay là vùng Lục Yên, Yên Bình, lại gắn với trấn Tuyên Quang, theo trục sông Chảy và sông Lô. Châu Lục Yên xuất hiện trong nhiều ghi chép, là vùng người Tày sinh sống đông, có ruộng nước trong các thung lũng hẹp và mỏ khoáng sản trong núi.
Thời Lê trung hưng và giai đoạn loạn lạc thế kỷ 18, miền thượng du sông Hồng nhiều lần chịu ảnh hưởng của các cuộc nổi dậy và các toán quân từ phương bắc tràn xuống. Đời sống bất ổn khiến dân cư thưa thớt ở nhiều nơi, các làng người Kinh chủ yếu tập trung dọc sông Hồng, sông Chảy, còn vùng cao do người Thái, Tày, Dao, Mông cư trú, người Mông đến muộn hơn cả.
Vùng đất Yên Bái thuộc đâu qua các thời
Bảng dưới tóm tắt khung hành chính chính của vùng đất trước khi có tỉnh Yên Bái. Tên gọi và ranh giới đổi nhiều lần, bảng chỉ nêu các mốc chắc chắn ở mức khái quát:
| Thời kỳ | Vùng thấp sông Hồng (Trấn Yên, Văn Yên, Văn Chấn) | Vùng sông Chảy (Lục Yên, Yên Bình) |
|---|---|---|
| Thời Đông Sơn | Cư dân đúc đồng ven sông, thạp Đào Thịnh | Có dấu vết cư trú cổ, ít hiện vật lớn |
| Lý – Trần | Đất Quy Hoá, quản qua thủ lĩnh địa phương | Gắn với vùng Tuyên Quang |
| Lê | Phủ Quy Hoá, trấn Hưng Hoá | Châu Lục Yên, trấn Tuyên Quang |
| Nguyễn (trước 1900) | Phủ Quy Hoá, tỉnh Hưng Hoá | Phủ Yên Bình, tỉnh Tuyên Quang |
| Từ 1900 | Tỉnh Yên Bái | Tỉnh Yên Bái |
Điểm cần nhớ là tỉnh Yên Bái năm 1900 được ghép từ hai nửa có lịch sử khác nhau: nửa tây gắn với Hưng Hoá và cánh đồng Mường Lò, nửa đông gắn với Tuyên Quang và sông Chảy. Điều này giải thích vì sao văn hoá, giọng nói, tập quán giữa Lục Yên và Văn Chấn có nhiều nét khác nhau dù cùng một tỉnh.
Thời Nguyễn: hai nửa thuộc hai tỉnh, và chiến sự cuối thế kỷ 19
Đầu thời Nguyễn, năm 1831, vua Minh Mạng chia lại cả nước thành các tỉnh. Vùng Trấn Yên, Văn Chấn tiếp tục thuộc phủ Quy Hoá của tỉnh Hưng Hoá; vùng Lục Yên và vùng nay là Yên Bình thuộc phủ Yên Bình của tỉnh Tuyên Quang. Chữ "Yên Bình" của huyện sau này và của xã Yên Bình hiện nay có gốc từ tên phủ ấy.
Nửa sau thế kỷ 19, thượng du sông Hồng là vùng tranh chấp ác liệt. Các toán quân Cờ Đen, Cờ Vàng từ bên kia biên giới tràn xuống, rồi quân Pháp ngược sông Hồng lên đánh chiếm. Các lực lượng kháng chiến địa phương, trong đó có các thủ lĩnh người Thái ở Mường Lò và các nhóm nghĩa quân hưởng ứng phong trào chống Pháp, cầm cự ở vùng núi trong nhiều năm.
Đến cuối những năm 1880 và đầu 1890, người Pháp kiểm soát được trục sông Hồng và lập các đồn binh dọc sông. Họ chia vùng núi thành các đạo quan binh do sĩ quan quân đội cai quản, trước khi dần chuyển sang hình thức tỉnh dân sự. Việc lập tỉnh Yên Bái năm 1900 chính là bước chuyển đó, gom phần đất của Hưng Hoá, Tuyên Quang và vùng quân sự lân cận về một mối.
Đọc di tích và tên làng ở Yên Bái theo lớp lịch sử
Hiểu các lớp lịch sử trên giúp bạn đọc đúng những gì mình gặp khi đi trong vùng. Một ngôi đền cổ ven sông Hồng như đền Đông Cuông ở Văn Yên hay đền Tuần Quán ở thành phố Yên Bái cũ thuộc lớp văn hoá người Kinh dọc sông, gắn với đường thuỷ và các bến cũ. Một bản Thái ở Mường Lò với nhà sàn và ruộng nước có lịch sử khai phá riêng, nhiều khi lâu đời hơn cả các làng ven sông.
Tên làng, tên xã cũng mang dấu vết từng lớp. Tên Hán Việt như Trấn Yên, Văn Chấn, Quy Mông, Báo Đáp thường thuộc lớp hành chính phong kiến. Tên gốc Thái, Tày như Mường Lò, Nậm Búng, Nà Hẩu thuộc lớp cư dân bản địa. Tên gốc Mông như các bản ở Mù Cang Chải, Trạm Tấu thuộc lớp cư dân đến muộn hơn, lên định cư ở vùng cao nhất.
Khi đọc một bảng giới thiệu di tích hay một bài báo cũ, hãy chú ý mốc thời gian để biết nơi đó lúc ấy thuộc tỉnh nào. Một sự kiện năm 1880 ở Lục Yên được ghi là "tỉnh Tuyên Quang" là đúng với thời điểm đó, không phải nhầm lẫn.
Sông Hồng, con đường buôn bán của vùng đất thời xưa
Trước khi có đường sắt và đường ô tô, sông Hồng là con đường chính nối vùng Yên Bái với miền xuôi. Thuyền buôn từ Hưng Hoá, Việt Trì ngược dòng lên chở muối, vải, đồ sắt, rồi xuôi về mang theo lâm sản, sản vật vùng núi. Hành trình ngược dòng qua nhiều ghềnh thác mất nhiều ngày, phụ thuộc mùa nước, nên các bến dọc sông là nơi dừng nghỉ, trao đổi và dần thành làng buôn.
Đoạn sông Hồng chảy qua vùng này còn được gọi là sông Thao trong nhiều tư liệu cũ. Các làng người Kinh ven sông như vùng Trấn Yên, Văn Yên sống nhờ ruộng bãi phù sa và nghề sông nước. Ngòi, suối đổ ra sông Hồng như ngòi Thia, ngòi Hút là những đường vào thung lũng bên trong, nơi người Thái, người Tày, người Dao sinh sống.
Phía đông, sông Chảy đóng vai trò tương tự cho vùng Lục Yên, nối với sông Lô và vùng Tuyên Quang. Hai trục sông này giải thích vì sao trước năm 1900, hai nửa của tỉnh Yên Bái sau này lại hướng về hai trung tâm khác nhau: nửa tây hướng về Hưng Hoá, nửa đông hướng về Tuyên Quang.
Đi thăm để hiểu vùng đất thời xưa
Muốn cảm nhận lớp lịch sử xưa, bạn có thể bắt đầu ở các đền ven sông Hồng. Đền Đông Cuông ở vùng Văn Yên cũ là di tích lớn, có lễ hội đầu năm thu hút đông người từ nhiều tỉnh; vị trí của đền bên sông cho thấy rõ vai trò của đường thuỷ thời trước. Đền Tuần Quán ở khu vực thành phố Yên Bái cũ cũng gắn với một bến sông xưa.
Tiếp theo là bảo tàng của tỉnh tại khu vực thành phố Yên Bái cũ, nơi có các hiện vật khảo cổ, tư liệu về thời kỳ Đông Sơn và các thời phong kiến. Nếu đi xa hơn lên Mường Lò, hãy dành thời gian đi qua các bản Thái quanh cánh đồng, xem hệ thống mương phai dẫn nước, thứ đã nuôi sống cánh đồng này qua nhiều thế kỷ.
Ở Lục Yên, các thung lũng ruộng nước của người Tày giữa núi đá và những bến cũ bên sông Chảy cho thấy nửa phía đông của vùng đất. Khi đi, nên hỏi chuyện người cao tuổi trong làng: tên làng, tên bến, tên đồi thường gắn với những câu chuyện khai phá mà sách vở chưa ghi hết.
Câu hỏi thường gặp
Thạp đồng Đào Thịnh hiện được trưng bày ở đâu?
Thạp đồng Đào Thịnh là bảo vật quốc gia, hiện vật gốc được bảo quản và trưng bày tại bảo tàng cấp quốc gia ở Hà Nội. Ở địa phương có thể gặp bản phục chế hoặc tư liệu giới thiệu. Trước khi đi xem, nên kiểm thông tin trưng bày hiện hành của bảo tàng.
Trước năm 1900 vùng Yên Bái thuộc tỉnh nào?
Thời Nguyễn trước 1900, phần phía tây như Trấn Yên, Văn Chấn thuộc phủ Quy Hoá của tỉnh Hưng Hoá; phần phía đông như Lục Yên và vùng Yên Bình thuộc phủ Yên Bình của tỉnh Tuyên Quang. Năm 1900 hai phần này cùng một số vùng quân sự được ghép thành tỉnh Yên Bái.
Mường Lò có từ bao giờ?
Cánh đồng Mường Lò là nơi người Thái cư trú rất lâu đời, có truyền thuyết khai mường riêng được giữ trong sử thi và lễ hội. Mốc năm cụ thể của việc khai phá không có sử liệu chắc chắn, nên chỉ nên hiểu đây là một trong những trung tâm người Thái sớm của vùng tây bắc.
Tên huyện Yên Bình có liên quan tới tên Yên Bái không?
Không có quan hệ trực tiếp. Yên Bình có gốc từ tên phủ Yên Bình của tỉnh Tuyên Quang thời Nguyễn, còn Yên Bái là tên một làng ven sông Hồng. Hai tên cùng có chữ "Yên", rất phổ biến trong địa danh vùng này.
Người Mông đến Yên Bái từ khi nào?
Người Mông đến vùng cao Mù Cang Chải, Trạm Tấu muộn hơn người Thái, Tày, thường được cho là vài thế kỷ gần đây, theo các đợt di cư từ phương bắc. Mốc cụ thể khác nhau theo từng dòng họ, nên khi viết chỉ nên nói người Mông là cư dân đến sau, định cư ở vùng cao nhất.
Có thể tìm hiểu lịch sử Yên Bái thời xưa ở đâu?
Nguồn dễ tiếp cận là bảo tàng tỉnh ở thành phố Yên Bái cũ, các sách địa chí, lịch sử địa phương do tỉnh biên soạn, và các bộ địa chí thời Nguyễn đã được dịch. Khi đọc, nên đối chiếu nhiều nguồn vì tên gọi và ranh giới thay đổi nhiều lần.