Người Dao là một trong bốn cộng đồng dân tộc thiểu số đông nhất của Yên Bái cũ, sống chủ yếu trên các sườn núi lưng chừng ở Văn Yên, Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên và Văn Chấn. Ở đây có nhiều nhóm Dao, mỗi nhóm một kiểu trang phục, nhưng cùng giữ lễ cấp sắc, chữ Nôm Dao, nghề thuốc nam và gắn bó với rừng quế.
Nếu đi dọc sông Hồng phía Văn Yên, Trấn Yên hay men theo hồ Thác Bà, những bản trên lưng đồi giữa rừng quế, rừng tre thường là bản Dao. Họ không ở cao như người Mông, cũng không ở thung lũng như người Thái, người Tày, mà chọn khoảng giữa: đủ cao để có rừng, đủ gần nước để làm ruộng bậc thang nhỏ.
Bài này giới thiệu các nhóm Dao thường gặp ở Yên Bái cũ, những nghi lễ quan trọng, vốn tri thức về cây thuốc và sinh kế ngày nay.
Các nhóm Dao thường gặp ở vùng Yên Bái cũ
Người Dao tự gọi mình là "Kìm Miền", "Kìm Mùn" tuỳ nhóm. Tên các nhóm dưới đây là tên gọi phổ biến bằng tiếng Việt, thường dựa vào trang phục; khu vực cư trú ghi theo mô tả chung:
| Nhóm | Dễ nhận qua | Khu vực thường gặp |
|---|---|---|
| Dao Đỏ | Khăn đội đầu và áo phụ nữ nhiều màu đỏ, nhiều tua chỉ, quả bông len đỏ | Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn |
| Dao Quần chẹt | Quần bó ống, áo dài xẻ tà, khăn quấn gọn | Văn Yên, Văn Chấn, Trấn Yên |
| Dao Quần trắng | Quần màu trắng trong bộ trang phục truyền thống, áo chàm | Yên Bình, Lục Yên |
| Dao Tuyển (Dao Áo dài) | Áo dài chàm, ít thêu hơn, trang sức bạc | Lục Yên, Yên Bình |
| Các nhóm khác | Trang phục, tiếng nói có khác biệt nhỏ | Rải rác nhiều xã vùng thấp |
Phân chia trên chỉ để dễ hình dung. Giữa các nhóm có nhiều cách gọi địa phương, có khi một nhóm mang hai ba tên. Người Dao không phiền khi được hỏi mình thuộc nhóm nào; ngược lại, gọi sai nhóm hay đoán bừa thì dễ gây cười hoặc phật ý.
Hiểu được nhóm nào ở đâu cũng giúp bạn đọc đúng hoa văn trên áo khi đi chợ phiên hay tới bản: cùng một màu đỏ, nhưng cách quấn khăn, vị trí hàng thêu và số tua chỉ có thể cho biết người mặc thuộc nhóm nào, đã lấy chồng hay chưa.
Bản Dao giữa rừng quế, rừng tre
Bản Dao ở Yên Bái cũ thường nằm trên sườn đồi, nhà dựng theo thế đất, quay mặt ra thung lũng. Nhiều nhóm ở nhà đất hoặc nhà nửa sàn nửa đất: phần sau đặt trên nền đất đào vào sườn đồi, phần trước gác sàn ra phía dốc. Kiểu nhà này tận dụng địa hình, không cần san nền rộng.
Quanh bản là ruộng bậc thang nhỏ, nương ngô, nương sắn và nhất là rừng quế. Vùng Văn Yên, Trấn Yên cũ nổi tiếng về quế, và người Dao là những người trồng quế lâu đời nhất ở đây. Một gia đình Dao có thể sống nhờ vài đồi quế trồng từ đời ông bà, cứ chục năm thì bóc vỏ, chặt cây, rồi trồng lại.
Nhờ quế, nhiều bản Dao ở Văn Yên cũ có đời sống khá lên rõ trong mấy chục năm qua. Mùa bóc quế, đường vào bản thơm mùi tinh dầu, sân nhà nào cũng phơi những tấm vỏ cuộn tròn. Chuyện kinh tế của cây quế được kể kỹ hơn ở danh mục quế, chè và kinh tế của trang.
Lễ cấp sắc: nghi lễ trưởng thành của đàn ông Dao
Lễ cấp sắc là nghi lễ quan trọng bậc nhất trong đời một người đàn ông Dao. Theo quan niệm của người Dao, người đàn ông chưa qua lễ cấp sắc thì chưa được coi là trưởng thành trọn vẹn, chưa được làm một số việc trong cộng đồng và sau khi mất chưa được về với tổ tiên theo đúng nghi thức. Vì vậy, dù tốn kém, hầu hết gia đình Dao đều cố gắng tổ chức lễ cấp sắc cho con trai.
Lễ thường kéo dài vài ngày, do các thầy cúng chủ trì, có sự tham gia của họ hàng, làng xóm. Người được cấp sắc được truyền dạy những điều răn về đạo đức: hiếu thảo với cha mẹ, không trộm cắp, không làm hại người khác, giúp đỡ người trong bản. Sau lễ, người đó được đặt một tên mới. Lễ có nhiều cấp, cấp càng cao càng nhiều nghi thức và càng ít người đạt tới.
Lễ cấp sắc là việc của gia đình và dòng họ, không phải buổi biểu diễn. Một số nơi phục dựng lễ cấp sắc trong các ngày hội văn hoá để giới thiệu; nhưng nếu được mời tới một lễ thật trong bản, khách cần giữ ý tuyệt đối: hỏi trước có được chụp ảnh không, không đứng chắn lối thầy cúng, không đụng vào đồ lễ, tranh thờ.
Chữ Nôm Dao và sách cổ
Người Dao có chữ viết riêng, thường gọi là chữ Nôm Dao, dựa trên chữ Hán và đọc theo tiếng Dao. Chữ này được dùng để chép sách cúng, sách dạy đạo đức, truyện thơ, bài hát giao duyên, gia phả. Những cuốn sách chép tay bằng giấy dó, bìa ố vàng, được cất giữ cẩn thận trong nhà thầy cúng hoặc người lớn tuổi trong họ.
Người biết đọc, viết chữ Nôm Dao ngày càng ít, chủ yếu là các thầy cúng và người già. Ở một số bản, những lớp học chữ Nôm Dao do chính người trong bản dạy đã được mở để truyền lại cho lớp trẻ, nhất là con trai chuẩn bị cấp sắc. Đây là một trong những nỗ lực giữ văn hoá do cộng đồng tự làm, không ồn ào.
Với người ngoài, sách cổ là thứ không nên đòi xem hay mua. Đó là tài sản tinh thần của gia đình, nhiều cuốn gắn với nghi lễ. Thỉnh thoảng có người lùng mua sách cổ người Dao để bán lại, khiến vốn tư liệu thất tán. Nếu thấy ai rao bán, tốt nhất đừng tiếp tay.
Nghề thuốc nam và tắm lá thuốc
Người Dao nổi tiếng với tri thức về cây thuốc. Phụ nữ Dao đi rừng hái lá, rễ, vỏ cây về phơi khô, chia thành từng thang cho những công dụng khác nhau theo kinh nghiệm truyền miệng. Ở chợ phiên vùng thấp Yên Bái cũ, thường gặp những người phụ nữ Dao ngồi bán các bó lá khô, gói thuốc tắm.
Tắm lá thuốc là tập quán quen thuộc của người Dao Đỏ: nhiều loại lá được đun sôi trong nồi lớn, đổ vào thùng gỗ pơ mu, người tắm ngâm mình trong nước lá nóng. Người Dao tắm lá sau những ngày làm việc nặng nhọc, và đặc biệt cho phụ nữ sau sinh theo kinh nghiệm cổ truyền. Ngày nay một số homestay, cơ sở du lịch vùng có người Dao đưa tắm lá thuốc vào dịch vụ cho khách.
Cần hiểu đúng: đây là tri thức dân gian và trải nghiệm thư giãn, không thay cho chữa bệnh. Người có bệnh tim mạch, huyết áp, phụ nữ có thai, trẻ nhỏ nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi ngâm nước nóng lâu. Không mua các bài thuốc uống không rõ thành phần, không rõ người bốc, nhất là thuốc rao bán để chữa những bệnh nặng.
Trang phục, thêu thùa và bạc
Trang phục là thứ phân biệt các nhóm Dao rõ nhất. Phụ nữ Dao Đỏ đội khăn đỏ to, áo dài thêu kín hoa văn ở vạt và lưng, đeo nhiều vòng bạc; phụ nữ Dao Quần chẹt mặc áo dài xẻ tà, quần bó ống; phụ nữ Dao Tuyển mặc áo chàm dài, ít thêu hơn. Đàn ông Dao ngày thường mặc giản dị, ngày lễ mới mặc áo thêu, đội khăn.
Hoa văn thêu của người Dao rất phong phú: hình cây thông, hình người, hình chó (con vật gắn với truyền thuyết về nguồn gốc của người Dao), hình dấu chân hổ, hình con mắt. Phụ nữ thêu bằng cách đếm sợi vải từ mặt trái, không cần vẽ mẫu, nên mỗi tấm áo có thể mất nhiều tháng. Bé gái tập thêu từ khi còn nhỏ.
Đồ bạc là phần không thể thiếu: vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, cúc áo, dây xà tích. Ngày trước, bạc vừa là đồ trang sức vừa là của để dành. Một số thợ bạc người Dao vẫn giữ nghề chạm bạc thủ công. Bài về trang phục các dân tộc trong danh mục này so sánh kỹ hơn áo Dao với áo Thái, Mông, Tày.
Người Dao và rừng: tri thức giữ rừng
Người Dao sống dựa vào rừng nhiều đời, nên có những quy ước riêng về việc dùng rừng. Ở nhiều bản, có khu rừng của bản không được chặt cây, là nơi giữ nguồn nước; có những cây cổ thụ được coi trọng, không ai đụng tới. Khi vào rừng lấy măng, hái lá thuốc, người Dao chỉ lấy vừa đủ, để lại gốc để cây mọc lại.
Tri thức về rừng được truyền qua lao động hằng ngày: người già dạy con cháu nhận cây thuốc, phân biệt nấm ăn được, biết mùa nào lấy măng, mùa nào kiêng chặt cây. Phụ nữ Dao đặc biệt giỏi nhận biết lá thuốc; có những người biết tên, công dụng của hàng trăm loại cây theo kinh nghiệm dân gian.
Ngày nay, rừng tự nhiên được bảo vệ theo quy định của Nhà nước, nhiều bản Dao nhận khoán giữ rừng, tham gia tổ bảo vệ rừng. Rừng trồng như quế, keo, bồ đề là nguồn thu chính, còn rừng tự nhiên còn lại được giữ như "kho" lá thuốc, măng, nước. Khi đi bộ trong rừng quanh bản Dao, khách không nên tự ý bẻ cành, đào cây hay hái lá mang về.
Đời sống bản Dao hôm nay
Đến một bản Dao ở Văn Yên hay Trấn Yên cũ hôm nay, bạn sẽ thấy đường bê tông vào tận bản, nhà xây xen nhà gỗ, xe máy, xe tải chở quế. Nhiều gia đình khá giả nhờ quế, có người mở xưởng sơ chế, có người làm đại lý thu mua. Con cái học trường nội trú, đi học cao đẳng, đại học, làm việc ở tỉnh, ở các thành phố.
Bên cạnh đó, những nét văn hoá cốt lõi vẫn được giữ: lễ cấp sắc vẫn tổ chức, chữ Nôm Dao có lớp dạy, phụ nữ vẫn thêu áo cho dịp lễ, các bài thuốc vẫn được truyền. Một số bản làm du lịch cộng đồng, đón khách ở nhà, tổ chức tắm lá thuốc, giới thiệu nghề thêu.
Khó khăn vẫn còn, nhất là ở những bản xa: đường sá mùa mưa, sạt lở, giá nông sản lên xuống, người trẻ đi làm xa. Người ngoài nhìn vào dễ thấy hoặc chỉ cái nghèo, hoặc chỉ cái đẹp; thực tế bản Dao là một cộng đồng đang thay đổi, có cả cái được và cái mất, và chính người Dao đang tự lựa chọn con đường của mình.
Câu hỏi thường gặp
Người Dao ở Yên Bái tập trung nhiều nhất ở đâu?
Người Dao sống nhiều ở Văn Yên, Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên và Văn Chấn cũ, chủ yếu ở các bản trên sườn núi lưng chừng, quanh rừng quế và ven hồ Thác Bà. Mỗi vùng có nhóm Dao chiếm phần đông khác nhau.
Lễ cấp sắc của người Dao có cho khách xem không?
Lễ cấp sắc là nghi lễ của gia đình và dòng họ. Khách chỉ dự khi được chủ nhà mời, và phải hỏi trước việc chụp ảnh. Một số ngày hội văn hoá có tái hiện lễ cấp sắc để giới thiệu, đó là dịp phù hợp hơn để khách tìm hiểu.
Tắm lá thuốc người Dao có an toàn không?
Với người khoẻ mạnh, tắm lá thuốc ở cơ sở sạch sẽ là trải nghiệm thư giãn. Người có bệnh tim, huyết áp, phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ nên hỏi bác sĩ trước, không ngâm quá lâu trong nước nóng, và không tự ý dùng thuốc uống không rõ nguồn gốc.
Chữ Nôm Dao khác chữ Hán thế nào?
Chữ Nôm Dao dựa trên chữ Hán nhưng có nhiều chữ tự tạo và đọc theo âm tiếng Dao, dùng để chép sách cúng, truyện thơ, gia phả. Người biết đọc chủ yếu là thầy cúng và người lớn tuổi, nay có một số lớp truyền dạy trong bản.
Làm sao phân biệt người Dao Đỏ với các nhóm Dao khác?
Cách dễ nhất là nhìn khăn đội đầu và áo của phụ nữ: Dao Đỏ có khăn lớn màu đỏ, nhiều tua chỉ và quả bông len đỏ, áo thêu dày. Các nhóm Dao Quần chẹt, Dao Tuyển mặc chàm nhiều hơn, ít màu đỏ. Không chắc thì hỏi lịch sự là tốt nhất.
Người Dao có Tết riêng không?
Người Dao ở Yên Bái cũ chủ yếu ăn Tết Nguyên đán cùng thời điểm với người Kinh, nhưng có nghi lễ riêng như cúng tổ tiên Bàn Vương, kiêng kỵ ngày đầu năm theo tục lệ của từng nhóm. Một số bản còn tổ chức các ngày hội đầu xuân với hát giao duyên, múa chuông.