YenBai.orgYên Bái
Đồng bào và văn hoá

Người Tày ở Lục Yên và Yên Bình: bản ven hồ Thác Bà, hát then và lễ xuống đồng

Người Tày ở Lục Yên, Yên Bình sống ven sông Chảy, hồ Thác Bà. Bài kể về nhà sàn Tày, hát then, đàn tính, lễ lồng tồng và những bản phải dời khi tích nước hồ.

Wooden stilt houses of a Tay village on a green hillside beside a calm reservoir lake, small boats moored below, banana trees and bamboo around, soft late afternoon light

Người Tày là cộng đồng dân tộc thiểu số đông dân ở phía đông vùng Yên Bái cũ, tập trung ở Lục Yên và Yên Bình, dọc sông Chảy và quanh hồ Thác Bà. Họ làm lúa nước, ở nhà sàn, giữ hát then, đàn tính và các lễ nông nghiệp như lễ xuống đồng, được gọi là lồng tồng.

Nếu Mường Lò là đất của người Thái ở phía tây, thì vùng sông Chảy là đất của người Tày ở phía đông. Hai cộng đồng cùng nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, cùng ăn nếp, ở nhà sàn, nhưng khác nhau về trang phục, lễ tục và lối hát. Người Tày ở Yên Bái gần gũi với người Tày ở Tuyên Quang, Hà Giang cũ hơn là với người Thái Tây Bắc.

Bài này giới thiệu người Tày ở vùng hồ và sông Chảy: họ sống ở đâu, ký ức về những cánh đồng chìm dưới lòng hồ, hát then, lễ lồng tồng và đời sống ven hồ hôm nay.

Vùng sông Chảy và các bản Tày

Sông Chảy chảy từ phía Hà Giang, Lào Cai cũ xuống, qua Lục Yên rồi vào hồ Thác Bà ở Yên Bình. Hai bên sông có những thung lũng ruộng nước khá rộng, là nơi người Tày định cư lâu đời. Trung tâm Lục Yên cũ (thị trấn Yên Thế trước đây) nằm giữa một thung lũng như vậy, quanh đó là các xã đông người Tày.

Ở Yên Bình cũ, người Tày sống quanh hồ Thác Bà, trên các sườn đồi thoải ven hồ và một số đảo lớn. Họ sống xen với người Kinh, người Dao, người Cao Lan và Nùng; nhiều xã ven hồ là xã nhiều dân tộc. Sau sắp xếp năm 2025, các xã ở đây được gộp lại, tên mới như xã Lục Yên, xã Thác Bà xuất hiện trên giấy tờ, nhưng người dân vẫn quen gọi tên bản, tên xã cũ.

Một bản Tày điển hình nằm ở chân đồi, trước mặt là ruộng, sau lưng là rừng hoặc vườn đồi. Nhà sàn dựng gần nhau thành cụm, có lối đi lát đá hoặc bê tông, ao cá, vườn chuối, bụi tre. Bản Tày thường đông vui, gần chợ, gần đường, nên đời sống hoà nhập với người Kinh khá sớm.

Hồ Thác Bà và những bản phải dời lên đồi

Khi xây đập thủy điện Thác Bà và tích nước vào khoảng đầu những năm 1970, một vùng rộng lớn thung lũng sông Chảy ở Yên Bình, Lục Yên chìm dưới mặt hồ. Trong số đất bị ngập có nhiều ruộng, bản của người Tày, người Kinh, người Dao. Hàng nghìn hộ phải chuyển lên vùng đồi cao hơn quanh hồ, hoặc đi nơi khác lập nghiệp.

Với người Tày, mất ruộng nước là mất sinh kế gốc. Ở nơi ở mới, họ phải làm quen với đồi dốc, trồng sắn, trồng chè, trồng rừng, đánh cá trên hồ. Ký ức về những cánh đồng cũ, những bến sông cũ vẫn còn trong lời kể của người già, có những cái tên bản nay chỉ còn trên giấy hoặc trong trí nhớ.

Hôm nay, nhiều bản ven hồ sống bằng cá lồng, chè, rừng trồng và du lịch. Một số gia đình người Tày mở homestay trên đảo hoặc ven hồ, đưa khách đi thuyền, đi bộ quanh bản. Khi nghe người già kể chuyện "ngày trước dưới lòng hồ có ruộng nhà ông", bạn đang nghe một phần lịch sử quan trọng của vùng đất này, không chỉ là chuyện cũ của một gia đình.

Nhà sàn Tày và nếp sinh hoạt

Nhà sàn Tày ở Lục Yên, Yên Bình thường làm bằng gỗ, mái lợp ngói máy hoặc lá cọ, sàn cao vừa phải, cầu thang ở đầu hồi hoặc mặt trước. Trong nhà có bếp lửa đặt giữa sàn, bàn thờ tổ tiên ở gian giữa, phía trong là chỗ ngủ, phía ngoài là chỗ tiếp khách. Gầm sàn ngày trước nhốt trâu bò, để nông cụ; nay phần lớn đã chuyển chuồng ra ngoài cho sạch sẽ.

Khách đến nhà người Tày thường được mời lên sàn ngồi quanh bếp, uống nước chè, ăn bữa cơm có xôi, cá suối hoặc cá hồ, rau rừng. Có vài điều nên biết: không ngồi chắn trước bàn thờ, không gác chân lên bếp, không tự ý vào buồng ngủ của gia đình. Chủ nhà mời rượu thì có thể nhận một chén, không uống được cứ nói rõ.

Nhiều gia đình Tày ngày nay xây nhà gạch, nhà mái bằng, giữ nhà sàn cũ để ở người già hoặc làm nơi thờ cúng, đón khách. Ở những xã ven hồ có làm du lịch, nhà sàn được sửa sang lại làm homestay. Như mọi nơi, đây là lựa chọn của chủ nhà; người ngoài không nên phán xét chuyện nhà nào còn nhà sàn, nhà nào đã bỏ.

Hát then và cây đàn tính

Then là loại hình nghi lễ và nghệ thuật gắn với người Tày, Nùng và một số nhóm Thái. Người hát then, thường gọi là bà then hoặc ông then, vừa hát vừa gảy đàn tính, có khi lắc chùm nhạc xóc nhịp. Lời then kể về hành trình đi lên trời cầu xin cho gia đình bình an, mùa màng tốt, người ốm khỏi bệnh, xen những đoạn mô tả thiên nhiên, đời sống rất đẹp.

Năm 2019, "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Hồ sơ gắn với nhiều tỉnh miền núi phía Bắc; người Tày ở Lục Yên, Yên Bình cũng là những cộng đồng còn giữ then trong đời sống, dù Yên Bái cũ không phải tỉnh được nhắc nhiều nhất trong hồ sơ.

Đàn tính làm từ quả bầu khô làm bầu cộng hưởng, cần đàn bằng gỗ, hai hoặc ba dây. Ngoài nghi lễ, đàn tính và các làn điệu then còn được hát trong sinh hoạt văn nghệ, giao lưu, gọi là then văn nghệ hay then vui. Ở nhiều xã có câu lạc bộ hát then, đàn tính do các nghệ nhân lớn tuổi dạy cho thanh niên, học sinh.

Lễ lồng tồng: ngày hội xuống đồng

Lồng tồng, có nơi đọc là lồng tông, nghĩa là "xuống đồng". Đây là lễ hội nông nghiệp đầu năm của người Tày, thường tổ chức trong tháng Giêng âm lịch, trước khi bắt đầu vụ cấy. Cả bản chọn một thửa ruộng rộng hoặc bãi đất làm nơi tổ chức, làm lễ cúng thần nông, cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu.

Sau phần lễ là phần hội: ném còn, kéo co, đẩy gậy, đánh quay, hát lượn, hát then, các trò chơi dân gian và những mâm cỗ xôi ngũ sắc, bánh chưng, bánh gio. Ném còn là trò quen thuộc nhất: quả còn bằng vải nhồi hạt, có dải tua màu, được ném qua một vòng tròn treo trên cây cột cao. Ai ném trúng vòng được cả bản reo hò, coi như điềm may cho năm mới.

Ở vùng Lục Yên, Yên Bình cũ, lễ lồng tồng được tổ chức ở một số xã, có năm do chính quyền và cộng đồng cùng phục dựng quy mô lớn, có năm chỉ gọn trong bản. Ngày tổ chức thay đổi theo từng nơi và từng năm. Nếu muốn dự, hãy hỏi chính quyền xã hoặc người quen ở địa phương từ trước Tết.

Lục Yên, Yên Bình đi đâu để gặp văn hoá Tày

Văn hoá Tày ở vùng hồ không tập trung vào một "điểm du lịch" mà nằm trong đời sống thường ngày. Vài gợi ý để tiếp cận tự nhiên:

  • Đi chợ trung tâm Lục Yên cũ vào buổi sáng, nơi người Tày, Dao, Nùng từ các bản xuống mua bán; bên cạnh là phiên chợ đá quý quen thuộc của vùng.
  • Ở homestay của gia đình người Tày ven hồ Thác Bà, đi thuyền ra các đảo, ăn cơm với chủ nhà, nghe kể chuyện hồ.
  • Hỏi chủ nhà xem trong xã có câu lạc bộ hát then, đàn tính không; nhiều câu lạc bộ sinh hoạt buổi tối và sẵn lòng cho khách ngồi nghe.
  • Ghé đền Thác Bà ở khu vực đập thủy điện, một di tích gắn với tên hồ, để hiểu thêm về câu chuyện của người dân vùng sông Chảy.
  • Dự lễ lồng tồng hoặc ngày hội văn hoá của xã nếu đến vào tháng Giêng.

Đừng mong đợi những màn trình diễn dựng sẵn. Văn hoá Tày ở đây hiện ra trong bữa cơm, tiếng đàn tính buổi tối, câu chuyện của người già, nhiều hơn là trên sân khấu.

Những cộng đồng sống cùng người Tày quanh hồ

Vùng hồ Thác Bà và sông Chảy không chỉ có người Tày. Ở Yên Bình cũ có người Cao Lan, một nhóm của dân tộc Sán Chay, sống ở một số xã ven hồ, có lối hát sình ca riêng và nhà sàn gần giống nhà Tày. Người Nùng sống xen với người Tày ở một số bản Lục Yên, tiếng nói gần nhau, trang phục và lễ tục có nét riêng.

Người Dao ở trên sườn đồi phía sau các bản Tày, người Kinh tập trung ở trung tâm xã, ven đường, ven hồ. Nhiều đợt người Kinh từ đồng bằng lên làm thuỷ điện, khai hoang, trồng chè từ những năm 1960–1970 đã ở lại lập nghiệp. Qua mấy thế hệ, các cộng đồng học tiếng của nhau, đi chung chợ, kết hôn với nhau.

Vì thế, một bữa cơm ở nhà người Tày ven hồ có thể có món cá hồ nấu kiểu Kinh, xôi nhiều màu kiểu Tày, rượu men lá kiểu Dao. Nghe người ở đây nói chuyện, bạn sẽ thấy họ chuyển qua lại giữa tiếng Tày và tiếng Việt rất tự nhiên. Sự đan xen ấy là một nét riêng của vùng hồ, khác hẳn với những vùng chỉ có một cộng đồng như Mù Cang Chải.

Hát lượn và những lối hát giao duyên của người Tày

Ngoài then, người Tày ở Lục Yên, Yên Bình còn có lượn, lối hát giao duyên giữa trai gái hoặc hát đối đáp trong ngày hội, ngày cưới. Lượn có nhiều điệu, lời thường là thơ bảy chữ, ví von về thiên nhiên, mùa màng, tình yêu. Người hát giỏi phải ứng tác nhanh, đối được lời của bên kia mà vẫn giữ vần, giữ ý.

Ngày trước, những đêm hội, đêm cưới, trai gái các bản ngồi hát lượn với nhau đến sáng. Có những đôi nên duyên nhờ lời lượn. Ngày nay, lượn chủ yếu sống trong các câu lạc bộ văn nghệ, các cuộc thi hát dân ca và những người lớn tuổi; người trẻ biết hát lượn ít dần.

Ở một số xã, người già vẫn giữ những bài hát ru, hát mừng nhà mới, hát đám cưới bằng tiếng Tày. Nếu bạn ở homestay và có dịp nghe những bài hát ấy, hãy xin phép trước khi ghi âm. Những lời hát đó là kho tư liệu quý về tiếng Tày vùng sông Chảy, đáng được trân trọng như một phần di sản sống.

Câu hỏi thường gặp

Người Tày và người Thái khác nhau thế nào?

Hai dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, cùng làm lúa nước và ở nhà sàn, nhưng khác nhau về trang phục, lễ tục, lối hát. Ở Yên Bái cũ, người Thái tập trung ở Mường Lò phía tây, người Tày ở Lục Yên, Yên Bình phía đông; người Tày có then, người Thái có xoè và khắp.

Hồ Thác Bà làm ngập bao nhiêu bản người Tày?

Không có con số được công bố rộng rãi riêng cho các bản người Tày. Tài liệu nói chung cho biết khi tích nước hồ vào đầu những năm 1970, nhiều xã ở Yên Bình, Lục Yên bị ngập một phần, hàng nghìn hộ thuộc nhiều dân tộc phải di dời lên vùng đồi quanh hồ hoặc đi nơi khác.

Then của người Tày có phải là hát văn nghệ không?

Then vốn là một thực hành nghi lễ, dùng lời hát và tiếng đàn tính trong các lễ cầu an, cầu mùa của gia đình, bản làng. Bên cạnh đó có then văn nghệ, lấy làn điệu then để hát trong sinh hoạt vui chơi, giao lưu. Hai dạng này dùng chung nhạc cụ nhưng khác dịp diễn ra.

Lễ lồng tồng tổ chức vào lúc nào?

Lễ lồng tồng của người Tày thường tổ chức trong tháng Giêng âm lịch, trước khi bắt đầu vụ cấy. Mỗi xã, mỗi bản có thể chọn ngày khác nhau, và không phải năm nào cũng tổ chức quy mô lớn. Muốn dự, nên hỏi chính quyền xã hoặc người quen trước Tết.

Ở Yên Bình có homestay của người Tày không?

Có một số gia đình người Tày và các dân tộc khác ven hồ Thác Bà làm homestay, nhất là quanh khu vực có thuyền ra đảo. Chất lượng và cách phục vụ khác nhau tuỳ nhà, nên hỏi kỹ về phòng, bữa ăn, đường đi và đặt trực tiếp với chủ nhà.

Đàn tính có mua làm quà được không?

Có thể mua đàn tính do nghệ nhân địa phương làm, nhưng một cây đàn tốt cần chọn bầu, gỗ và dây kỹ, giá phụ thuộc người làm. Nên hỏi qua câu lạc bộ then, đàn tính trong xã để biết ai làm đàn, tránh mua đàn trang trí chỉ để treo tường.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.