Nhà máy thủy điện Thác Bà, đặt tại xã Thác Bà (vùng thị trấn Thác Bà cũ, huyện Yên Bình), là công trình thủy điện lớn đầu tiên của miền Bắc, tổ máy đầu tiên phát điện năm 1971, gồm ba tổ máy với công suất thiết kế ban đầu 108 MW. Hơn nửa thế kỷ sau, nhà máy vẫn vận hành và hồ chứa của nó nuôi cả một nền kinh tế vùng hồ.
Kinh tế vùng hồ Thác Bà không chỉ là điện. Hồ còn cắt lũ cho hạ du, cấp nước, là nơi nuôi cá lồng, đánh bắt cá tự nhiên, vận tải thuyền nối các xã ven hồ, và ngày càng nhiều là du lịch. Người dân ven hồ, từ Yên Bình lên Lục Yên, sống với hồ theo nhiều cách khác nhau.
Lịch sử hình thành hồ và hệ sinh thái hồ có bài riêng ở chuyên mục núi sông của trang. Bài này nhìn hồ như một nguồn sinh kế: ai làm gì, kiếm sống ra sao, và có những ràng buộc nào khi sống bên một hồ thủy điện.
Nhà máy thủy điện: vai trò ngày trước và hôm nay
Khi hoàn thành vào đầu thập niên 1970, nhà máy Thác Bà là nguồn điện quan trọng cho miền Bắc trong bối cảnh chiến tranh, và từng là một trong những mục tiêu bị đánh phá. Với quy mô thời đó, nó là công trình năng lượng tiêu biểu, đào tạo nên một thế hệ kỹ sư, công nhân ngành điện.
Ngày nay, so với những nhà máy thủy điện rất lớn như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, công suất của Thác Bà khiêm tốn. Nhưng nhà máy vẫn đóng góp điện năng ổn định vào hệ thống, nhất là vào giờ cao điểm, nhờ khả năng điều chỉnh nhanh của thủy điện. Nhà máy đã qua những đợt cải tạo, thay thế thiết bị để kéo dài tuổi thọ.
Một vai trò ít người để ý là cắt lũ. Hồ Thác Bà chặn dòng sông Chảy, một phụ lưu của sông Lô, nên khi mưa lớn, hồ giữ lại một phần nước, giảm đỉnh lũ cho hạ du ở Phú Thọ và xa hơn. Vào mùa mưa, việc vận hành hồ phải theo quy trình liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, có lúc phải xả lũ, gây ngập ở những vùng ven sông phía dưới.
Với địa phương, nhà máy tạo việc làm trực tiếp cho một số cán bộ, công nhân, đóng thuế, phí dịch vụ môi trường rừng, và hình thành nên khu dân cư thị trấn Thác Bà cũ quanh nhà máy.
Hồ tạo ra những nguồn sinh kế nào
Ngoài điện, mặt hồ và vùng ven hồ mở ra nhiều nghề mới cho người dân Yên Bình, Lục Yên cũ. Dưới đây là những nguồn sinh kế chính, xếp theo mức độ phổ biến.
- Đánh bắt cá tự nhiên: nhiều hộ ven hồ có thuyền nhỏ, thả lưới, đặt lờ, câu cá. Cá mè, trôi, chép, rô phi, cá lăng, cá chiên là những loài người dân hay nhắc tới.
- Nuôi cá lồng: các lồng bè trên mặt hồ nuôi cá lăng, cá chiên, rô phi, trắm, chép. Đây là nghề cần vốn và kỹ thuật hơn, nhưng cho thu nhập ổn định hơn đánh bắt.
- Vận tải thuyền: nhiều thôn ven hồ và trên đảo chỉ đi lại thuận bằng thuyền. Thuyền chở người, chở hàng, chở nông sản, gỗ rừng trồng từ các đảo và bờ xa về bến.
- Trồng rừng, cây ăn quả trên đảo và ven hồ: keo, quế, chè, bưởi, sắn trồng trên đất dốc quanh hồ.
- Du lịch: thuyền đưa khách thăm đảo, hang động, đền Thác Bà, homestay ven hồ, dịch vụ ăn cá hồ.
- Làm thuê cho các dịch vụ trên: lái thuyền, chăm cá lồng, nấu ăn, dọn phòng.
Nhiều hộ làm cùng lúc mấy nghề: vừa có vài lồng cá, vừa đi lưới, vừa trồng keo trên đồi, đến mùa du lịch thì chở khách. Cách đa dạng này giúp họ chống lại rủi ro khi một nguồn thu gặp khó. Nó cũng giải thích vì sao khó tính thu nhập trung bình của một hộ ven hồ: tiền đến từ nhiều nguồn nhỏ, theo mùa, ít khi được ghi chép đầy đủ.
Nuôi cá lồng trên hồ: nghề chính của nhiều thôn
Nuôi cá lồng phát triển mạnh trên hồ Thác Bà khoảng hai thập niên gần đây, tập trung ở những khúc hồ kín gió, nước sâu, gần bến. Lồng làm bằng khung sắt hoặc ống nhựa, phao, lưới, neo cố định. Mỗi hộ có thể có vài lồng đến vài chục lồng.
Cá lăng và cá chiên là hai loài giá trị cao, được nhiều hộ nuôi, vì có tiếng là đặc sản sông hồ miền núi. Cá rô phi, trắm, chép nuôi để bán số lượng lớn. Giống cá có thể lấy từ các trại giống trong vùng hoặc tỉnh khác. Thức ăn công nghiệp và cá tạp là hai nguồn thức ăn chính.
Rủi ro của nghề là nước hồ thay đổi theo vận hành nhà máy: mùa khô mực nước xuống thấp, lồng phải dời ra chỗ sâu; mùa lũ nước đục, dòng chảy mạnh. Thời tiết nắng nóng kéo dài, nước thiếu ô-xy có thể làm cá chết hàng loạt. Dịch bệnh cá cũng là mối lo thường trực.
Đầu ra là thương lái, nhà hàng trong vùng và ở Hà Nội. Một số hợp tác xã nuôi cá đã xây dựng nhãn hàng, đưa cá Thác Bà vào danh mục sản phẩm OCOP của địa phương, giúp tăng giá trị và tạo uy tín.
Du lịch hồ: từ chuyến thuyền tới homestay ven hồ
Hồ Thác Bà với hàng nghìn đảo lớn nhỏ, các hang động như động Thủy Tiên, động Xuân Long, đền Thác Bà, các bản Tày, Dao ven hồ là tài nguyên du lịch lớn. Khách thường đi thuyền trong ngày từ bến gần trung tâm xã Thác Bà hoặc từ các bến khác, thăm đảo, hang, ăn cá hồ, ngủ lại homestay.
Về kinh tế, du lịch hồ tạo việc làm cho chủ thuyền, người lái thuyền, nhà hàng ven bến, homestay, người bán đặc sản. Một chuyến thuyền chở khách là thu nhập của nhiều người: chủ thuyền, người nấu ăn, người hướng dẫn, người bán hàng ở điểm dừng.
Du lịch hồ có lợi thế là gần Hà Nội, có thể đi theo cao tốc, và có thể kết hợp với Lục Yên, với trung tâm tỉnh cũ. Nhưng mùa du lịch ngắn, khách thường đi trong ngày, chi tiêu không nhiều. Các homestay phải cạnh tranh với nhau, chất lượng dịch vụ không đều.
Một mối lo khác là xây dựng tự phát trên đảo, ven hồ làm xấu cảnh quan, rác thải từ khách và từ lồng bè làm ô nhiễm nước hồ. Giữ hồ sạch là điều kiện để cả nghề cá lẫn nghề du lịch tồn tại lâu dài.
Những ràng buộc khi sống bên một hồ thủy điện
Mực nước thay đổi. Nước hồ lên xuống theo mùa và theo vận hành nhà máy. Bến thuyền, lồng cá, ruộng ven hồ phải thích nghi. Người dân ven hồ lâu năm biết đọc mực nước, nhưng người mới đến dễ bất ngờ.
Vùng bán ngập. Đất ven hồ ngập vào mùa nước cao, lộ ra vào mùa khô. Người dân có thể tận dụng trồng cây ngắn ngày, nhưng phải chấp nhận rủi ro mất mùa nếu nước lên sớm.
Quy định về hành lang bảo vệ hồ. Xây dựng, khai thác cát, lấn chiếm lòng hồ bị quản lý chặt. Muốn làm nhà, làm bến, đặt lồng bè cần hỏi chính quyền xã và đơn vị quản lý hồ.
An toàn đường thủy. Thuyền chở khách phải có áo phao, đăng ký, đăng kiểm; người lái phải có chứng chỉ phù hợp. Gió lớn, sương mù trên hồ có thể gây nguy hiểm, nhất là với thuyền nhỏ.
Ký ức tái định cư. Khi xây hồ, nhiều làng ở lòng hồ phải di dời lên cao. Đời sống của các hộ tái định cư từng gặp nhiều khó khăn về đất sản xuất, và đến nay vẫn là một phần câu chuyện của vùng hồ.
Vùng hồ sau khi nhập vào tỉnh Lào Cai
Vùng hồ Thác Bà nay thuộc các xã Thác Bà, Yên Bình, Cảm Nhân, Bảo Ái, Yên Thành, và phía bắc là các xã vùng Lục Yên của tỉnh Lào Cai. Việc quản lý hồ, quy hoạch du lịch, nuôi trồng thủy sản được đặt chung trong quy hoạch của tỉnh mới.
Với một tỉnh có Sa Pa và nhiều điểm du lịch vùng cao, hồ Thác Bà là sản phẩm khác: du lịch mặt nước, gần đồng bằng, kết hợp văn hoá Tày, Dao. Nếu được kết nối tốt, đây có thể là một chặng trên hành trình từ Hà Nội lên các điểm du lịch phía bắc.
Người dân và doanh nghiệp ven hồ cần cập nhật địa chỉ theo xã mới, theo dõi các quy định về nuôi trồng, du lịch, xây dựng ven hồ của tỉnh Lào Cai. Những thông tin như vậy nên hỏi trực tiếp ủy ban xã, không dựa vào tin đồn trên mạng.
Về dài hạn, câu hỏi lớn của vùng hồ là cân bằng giữa các nghề cùng dùng một mặt nước: nhà máy cần nước cho điện và cắt lũ, người nuôi cá cần chỗ đặt lồng và nước sạch, du lịch cần cảnh quan và sự yên tĩnh, người dân cần đường thủy đi lại. Một quy hoạch rõ ràng, được người dân hiểu và đồng thuận, sẽ giúp các nghề này không giẫm chân nhau.
Một ngày của người làm nghề trên hồ
Để hình dung kinh tế vùng hồ, có thể theo chân một gia đình ven hồ ở vùng Yên Bình cũ. Trời chưa sáng, người chồng đã chèo hoặc chạy thuyền máy ra thăm lưới thả từ chiều hôm trước, gỡ cá, phân loại cá to bán cho thương lái, cá nhỏ để ăn hoặc làm thức ăn cho lồng. Người vợ ra lồng cá cho ăn, kiểm tra lưới lồng, vớt rác trôi dạt.
Buổi sáng, thương lái đến bến thu mua cá. Có hôm giá tốt, có hôm cá nhiều, giá xuống. Những ngày cuối tuần mùa du lịch, người chồng chuyển sang chở khách, còn cá bắt được bán luôn cho nhà hàng ven bến. Buổi trưa, gia đình lên đồi phát cỏ rừng keo hoặc hái chè trên mảnh đồi sau nhà.
Chiều muộn, thuyền lại ra hồ thả lưới. Mùa nước cao, lồng cá phải chằng buộc kỹ hơn; mùa nước thấp, phải kéo lồng ra chỗ sâu, việc nặng cần cả nhà hoặc hàng xóm giúp. Những ngày có cảnh báo mưa lớn, ai cũng để ý thông báo xả lũ, kiểm tra thuyền và lồng.
Đời sống ấy không dư dả nhưng nhiều nguồn: mỗi thứ một ít, cộng lại thành thu nhập của gia đình. Đó cũng là đặc điểm chung của kinh tế vùng hồ Thác Bà.
Câu hỏi thường gặp
Nhà máy thủy điện Thác Bà có từ năm nào?
Nhà máy được xây dựng từ những năm 1960 trên sông Chảy, tổ máy đầu tiên phát điện năm 1971. Đây là công trình thủy điện lớn đầu tiên của miền Bắc, và đến nay vẫn vận hành sau những đợt cải tạo, thay thế thiết bị.
Hồ Thác Bà có vai trò gì ngoài phát điện?
Hồ cắt lũ cho hạ du sông Chảy, sông Lô, cấp nước, điều hoà khí hậu vùng xung quanh, là nơi nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, vận tải đường thủy và phát triển du lịch. Vận hành hồ trong mùa lũ tuân theo quy trình liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng.
Cá nuôi lồng trên hồ Thác Bà chủ yếu là loài gì?
Các loài phổ biến là cá lăng, cá chiên, rô phi, trắm, chép. Cá lăng và cá chiên có giá trị cao, được coi là đặc sản; rô phi, trắm, chép nuôi số lượng lớn. Loài nuôi cụ thể thay đổi theo thị trường và kinh nghiệm từng hộ.
Xã Thác Bà sau sáp nhập gồm những vùng nào?
Theo phương án sắp xếp từ 1/7/2025, xã Thác Bà được lập từ thị trấn Thác Bà và các xã Bạch Hà, Đại Minh, Hán Đà, Vĩnh Kiên, Vũ Linh của huyện Yên Bình cũ. Nhà máy thủy điện và phần lớn bến thuyền du lịch nằm trong xã này.
Nuôi cá lồng trên hồ Thác Bà cần thủ tục gì?
Thường phải đăng ký với chính quyền xã, tuân theo quy hoạch vùng nuôi trên hồ và các quy định về thủy sản, môi trường. Vị trí đặt lồng phải không cản trở luồng thuyền và hoạt động của nhà máy. Quy định cụ thể nên hỏi cơ quan nông nghiệp và ủy ban xã sở tại.
Đi thuyền trên hồ Thác Bà cần lưu ý gì về an toàn?
Luôn mặc áo phao, chọn thuyền có đăng ký và người lái có kinh nghiệm, không đi khi gió lớn, sương mù dày hoặc khi có cảnh báo mưa lũ. Không đứng, đi lại nhiều trên thuyền nhỏ, không tự ý bơi ở khu vực nước sâu, gần cửa nhận nước của nhà máy.